lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, nội dung nghiên cứu của luận văn bao gồm 3 chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tín dụng chính sách và hiệu quả tín dụng chính sách. Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả tín dụng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Bình Giang tỉnh Hải Dƣơng. Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Bình Giang tỉnh Hải Dƣơng. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH VÀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH 1.Những vấn đề cơ bản về tín dụng chính sách 1.
Khái niệm về tín dụng chính sách 1. Khái niệmvề tín dụng ngân hàng Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác(Luật TCTD,2010) Về bản chất, tín dụng là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ sử dụng vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi theo thoả thuận giữa hai bên. Hoạt động tín dụng ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời nền sản xuất hàng hóa, khi doanh nghiệp cần nguồn vốn để đƣa vào sản xuất.Từ đó, tín dụng ra đời. Khái niệm về tín dụng chính sách Trong cuộc sống hàng ngày của các đối tƣợng chính sách, việc rơi vào tình trạng thiếu hụt các khoản tài chính cho các nhu cầu thiết yếu nhƣ ăn, ở, đi lại, học hành, việc làm… cho tới các nhu cầu thiết yếu nhƣ bị ốm đau, trộm cắp, thiên tai thậm chí là các nhu cầu dài hạn nhƣ xây dựng nhà ở, mua nguyên vật liệu, sản xuất kinh doanh diễn ra thƣờng xuyên.
Việc thiếu hụt nguồn tài chính tài trợ cho các nhu cầu này là cản trở với mục tiêu xoá đói giảm nghèo và an sinh xã hội. Những hạn chế về khả năng đáp ứng các quy định về vốn vay của TCTD khiến các đối tƣợng chính sách gần nhƣ không thể tìm ra nguồn tài chính đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt và sản xuất kinh doanh. Gắn kết đặc điểm này cùng với vai trò quan trọng của Nhà nƣớc với công tác giảm nghèo, an sinh xã hội cần tới sự cần thiết về nguồn tín dụng chính sách. 7 Hiện nay, ở nƣớc ta phát triển hai loại hình tín dụng chính sách với nhiệm vụ khác khau.
Ngân hàng phát triển Việt Nam ra đời thực hiện tín dụng đầu tƣ phát triển. Ngân hàng Chính sách xã hội ra đời nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội.Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu tín dụng chính sách do Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiệntheo Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ban hành ngày 04/10/2002. Căn cứ quy định tại Điều 1, nghị định 78/2002/NĐ-CP thì tín dụng chính sách là:”Tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, là việc sử dụng nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội”. Nhƣ vậy, một số đặc điểm đƣợc khái quát từ khái niệm về tín dụng chính sách, nhƣ sau: i.
Tín dụng chính sách giúpngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác đƣợc tiếp cận nguồn tín dụng ƣu đãiđể có vốn sản xuất kinh doanh, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống.Mục tiêu của tín dụng chính sách là giảm nghèo và đảm bảo ASXH. Hoạt động tín dụng chính sách thông qua NHCSXH không vì lợi nhuận. Tín dụng chính sách yêu cầu đối tƣợng thụ hƣởng sử dụng vốn vay đúng mục đích, trả gốc và lãi cho Ngân hàng đúng quy định trong thỏa thuận giữa hai bên. Tín dụng chính sách đƣợc ƣu đãi về lãi suất vay, thời hạn vay và ƣu đãi về thủ tục vay vốn đến phƣơng thức khi trả nợ và lãi.
Đặc điểm của tín dụng chính sách Thứ nhất, hộ nghèo và cácđối tƣợng vay vốn tín dụng chính sách chủ yếusinh sống ở khu vực nông thôn với nghề nghiệp là làm nông nghiệp.Dođó, 8 sản phẩm sản xuất ra của họ có tính chất mùa vụ chịu ảnh hƣởng lớn bởi điều kiện tự nhiên và biến động kinh tế xã hội và họ cũng thiếu kinh nghiệm để phòng ngừa rủi ro. Họ có nhu cầu vay vốn đa dạng để sản xuất kinh doanh và chi tiêu cho đời sống sinh hoạt hàng ngày nhƣng rất khó để vay vốn nguồn tín dụng thƣơng mại có những tiêu chuẩn khắt. Họ rất cần nguồn vốn dễ dàng tiếp cận. Thứ hai, chi phí để cho vay với đối tƣợng chính sách sẽ cao hơn đối tƣợng khác.
Các món vay thƣờng không lớn, trả ra vay lại nhiều lần và đối tƣợng vay thƣờng không tập trung , chủ yếu ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa nên cần rất nhiều nguồn lực từ tài chính đến nhân lực để thẩm định các món vay và việc giám sát sau khi vay vốn. Thứ ba, việc thu thập thông tin để phê duyệt cho vay của ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách thƣờng rất hạn chế.Thông tin về tài chính, thông tin về cá nhân và gia đình của đối tƣợng chính sách cũng rất khó thu thập, chủ yếu dựa vào thông tin từ trƣởng thôn và ngƣời dân trên địa bàn đối tƣợng chính sách sinh sống.Tình trạng thiếu thông tin để phê duyệt món vay của nhóm đối tƣợng này cao hơn các nhóm đối tƣợng khác. Thứ tƣ, đối tƣợng chính sách thƣờng có trình độ, nhận thức không bằng các đối tƣợng khác nên sử dụng vốn vay chƣa phát huy đƣợc hiệu quả.Kỹ năng quản lý tài chính, kỹ thuật sản xuất kinh doanh và thực hành tiết kiệm chƣa đƣợc làm quen dẫn tới khả năng trả nợ bị ảnh hƣởng.Do vậy, họ không chỉ cần nguồn vốn mà cần đƣợc hƣớng dẫn về cách quản lý tài chính và kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh. Thứ năm, tài sản để đảm bảo vốn vay của đối tƣợng khách hàng này thƣờng không đủ tiêu chuẩn về tài sản đảm bảo với các Tổ chức tín dụng(TCTD) hiện nay.
Do vậy, khó khăn trong việc thu nợ từ tài sản đảm bảo khi họ không trả đƣợc nợ. 9 Thứ sáu, tín dụng chính sách không chỉ thực hiện cung cấp nguồn vốn ƣu đãi cho các đối tƣợng chính sách mà còn hƣớng dẫn họ cách quản lý nguồn vốn và phƣơng thức sản xuất kinh doanh hiệu quả đem lại nguồn thu nhập ổn định hơn để vƣơn lên thoát nghèo bền vững. Thứ bảy, tín dụng chính sách cần đƣợc thực hiên cho vay theo hình thức đặc thù, cho vay theo tổ, nhóm để có thể chia sẻ kinh nghiệm, giúp đỡ nhau sản xuất kinh doanh hiệu quả và giám sát cộng đồng trong quá trình sử dụng vốn. Vai trò của tín dụng chính sách Nguyên nhân căn bản vẫn còn ngƣời nghèo là do ốm, bệnh, đông con, thiếu sức lao động, thiếu nguồn vôn và kỹ thuật sản xuất kinh doanh hiệu quả.Thông qua tín dụng chính sáchhộ vay vốn sẽ dễ dàng đƣợc vaynguồn vốn ƣu đãi phù hợp với điều kiện của gia đìnhvà đƣợc học tập, trao đổi kỹ thuật sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn.
Và tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản, từ đó, các đối tƣợng chính sách sẽ cùng với các chính sách của nhà nƣớc và sự vƣơn lên của bản thân để cải thiện đời sống và vƣơn lên thoát nghèo. Cụ thể: Thứ nhất, tín dụng chính sách giúp những ngƣời yếu thế trong xã hội vƣợt qua đƣợc chính mình để tạo lập cho cuộc sống ổn định hơn với công việc ổn định, thu nhập từng bƣớc đƣợc nâng lên. Các đối tƣợng chính sách thƣờng gặp khó khăn: thiếu vốn, thiếu sức lao động, thiếu kinh nghiệm sản xuất kinh doanh…Do đó, tín dụng chính sách cần giúp họ có nguồn vốn và kỹ thuật sản xuất kinh doanh để đem lại hiệu quả trong sản xuất. Thứ hai, tín dụng chính sách là giúp đối tƣợng chính sách đƣợc vay vốn với lãi suất ƣu đãi, tránh việc phải đi vay với lãi suất quá cao vƣợt khả năng tài chính của gia đình.
Do đặc điểm nguồn vốn tín dụng thƣơng mại yêu cầu khắt khe khiến đối tƣợng chính sách khó khăn để tiếp cận. Vay nợ với lãi suất cao và áp lực trả nợ lớn làm cho họ càng khó khăn hơn.Do vậy, tín dụng 10 chính sách có những ƣu đãi về lãi suất( thấp hơn lãi suất thị trƣờng), điều kiện cho vay và cách thức trả nợ,…sẽ giúp các đối tƣợng chính sách vững tin hơn để sản xuất kinh doanh với mức sinh lời tốt hơn. Thứ ba, tín dụng chính sách không chỉ giúp các đối tƣợng chính sách tiếp cận đƣợc nguồn tín dụng ƣu đãi mà còn giúp họ định hƣớng nguyên liệu đầu vào, sản phẩm đầu ra nhằm sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, tín dụng chính sách cũng hƣớng dẫn các đối tƣợng chính sách xây dựng và triển khai những phƣơng án sản xuất kinh doanh dù là ở mức độ đơn giản nhất, biết dùng vốn vay để mua các nguyên vật liệu để sản xuất, biết thực hành tiết kiệm để có nguồn trả nợ ngân hàng…Bƣớc đầu họ tiếp cận đƣợc với kỹ thuật sản xuất và tích lũy đƣợc kinh nghiệm sản xuất sẽ giúp họ đảm bảo đƣợc nguồn thu nhập ổn định để vƣơn lên thoát nghèo bền vững.
Thứ tƣ, tín dụng chính sách giúp các đối tƣợng chính sách nâng cao đƣợc đời sống tinh thần. Nhờ nguồn vốn ƣu đãi giúp họ yên tâm sản xuất giúp tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống và dành nhiều thời gian để nâng cao đời sống tinh thần để bảo đảm thoát nghèo bền vững. Họ sẽ không chỉ nâng cao đƣợc đời sống vật chất mà còn cảm thấy đời sống có ý nghĩa hơn. Tín dụng chính sách còn giúp các sinh có hoàn cảnh khó khăn đƣợc đi học nâng cao cơ hội nghề nghiệp, những ngƣời chƣa có việc làm ổn định tạo việc làm ổn định từ đó giảm tỷ lệ thất nghiệp, các tệ nạn xã hội cũng sẽ bị đẩy lui.
Thứ năm, Tín dụng chính sách góp phần dịch chuyển cơ cấu nông nghiệp nông thôn và phân công lại lao động trong xã hội.Các đối tƣợng chính sách thƣờng sinh sống ở vùng nông thôn với ngành nghề sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp là chủ yếu, họ ít đƣợc tiếp cận với khoa học kĩ thuật mới, khiến cho năng suất lao động trong lĩnh vực nông nghiệp chƣa cao.