CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ 1.1 Khái quát hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ 1.1 Xếp hạng tín nhiệm Xếp hạng tín nhiệm là việc đưa ra các nhận định hiện tại về mức độ tín nhiệm của nhà phát hành đối với một trách nhiệm tài chính nào đó, hoặc là đánh giá mức độ rủi ro gắn liền với các loại đầu tư khác nhau. Các “đầu tư” này có thể dưới dạng chứng khoán như là trái phiếu, cổ phiếu, giấy nhận nợ, hoặc các công cụ cho vay khác như vay và gửi tiền tại ngân hàng, các thương phiếu [27] Xếp hạng tín nhiệm là kết quả của việc đánh giá tất cả các rủi ro về thanh toán vốn gốc, lãi của các khoản nợ hiện tại và tương lai của nhà phát hành. Việc xếp hạng tín nhiệm được thực hiện trong mối quan hệ mật thiết giữa quá khứ, hiện tại để trên cơ sở đó đưa ra các dự đoán về tương lai. Trong kết quả đó chứa đựng ý kiến chủ quan của các chuyên gia xếp hạng.
Đối tượng của xếp hạng tín nhiệm bao gồm các quốc gia, công ty, ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ đầu tư, … và các công cụ nợ do các chủ thể này phát hành. Xếp hạng người đi vay: dự báo nguy cơ vỡ nợ trên ba cấp độ 1/ nguy hiểm; 2/ cảnh báo và 3/ an toàn dựa trên xác suất không trả được nợ (PD: Probability of Default) Xếp hạng khoản vay: tập trung vào rủi ro thể hiện ở mỗi giao dịch. Xếp hạng khoản vay có tính đến yếu tố như tài sản thế chấp, thời hạn thanh toán, tổng dư nợ. Rủi ro các khoản vay được đo lường bằng xác suất rủi ro dự kiến (EL: Expected Loss).
EL = PD x EAD x LGD [43], trong đó EAD: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Exposure at Default _ tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm không trả được nợ; LGD: Loss Given Default _ tỷ trọng tổn thất ước tính.2 Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ là hệ thống các chỉ tiêu và quy tắc đánh giá do TCTD thiết lập nhằm đánh giá chất lượng tín dụng của khách hàng, phục vụ việc ra quyết định cho vay của nội bộ TCTD đó. Nền tảng của hệ thống xếp hạng tín dụng chính là cơ sở dữ liệu do chính TCTD thu thập được và tiến hành phân tích nên kết quả xếp hạng phụ thuộc hoàn toàn vào việc thu thập, phân tích và mô hình tính toán dữ liệu này. Đồng thời dữ liệu cần thu thập luôn có sự thay đổi biến động theo tình hình KT - XH nên các thước đo sẽ có sự thay đổi trong từng thời kỳ đòi hỏi hệ thống phải cập nhật liên tục những biến động đó. Do vậy hệ thống xếp hạng tín dụng không phải là công cụ thay thế hiệu quả tuyệt đối cho những nhận xét và đánh giá chuyên môn của các chuyên gia giàu kinh nghiệm của TCTD.3 Chức năng và mục tiêu của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ Hệ thống xếp hạng vận hành tốt giúp xóa tan đi khoảng tối giữa người cho vay và người đi vay, giúp người cho vay xác định được những rủi ro có thể gặp phải trong hoạt động cho vay của mình.
Đối với khách hàng mới, HTXHTDNB giúp TCTD xác định được năng lực hoạt động, quản lý, trình độ tổ chức, khả năng và tiềm năng phát triển … và quan trọng nhất là khả năng tài chính để TCTD đưa ra các quyết định hợp lý về mặt chính sách đối với khách hàng như: khả năng quan hệ tín dụng, cho vay hay không cho vay, rủi ro khi quyết định, mức vay, lãi suất (giá khoản vay), các chính sách khác về thanh toán quốc tế, bảo lãnh … Đối với khách hàng hiện tại, HTXHTDNB giúp cho TCTD lượng hoá được các rủi ro tài chính của các khoản vay đang phát sinh. Thông qua việc lượng hoá có căn cứ các rủi ro tài chính, TCTD phân loại các khoản nợ theo các nhóm tích TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 hợp phục vụ cho việc quản lý, giám sát, thu hồi … cũng như xác định các khoản dự phòng cần trích lập đảm bảo phản ánh trung thực tình hình tài chính, kết quả hoạt động của TCTD. HTXHTDNB được xem như “người gác cổng” sàn lọc khách hàng ưu tiên các khoản tín dụng có chất lượng tốt được triển khai, gây khó khăn cho các khách hàng có chất lượng tín dụng thấp, dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Hệ thống HTXHTDNB hoạt động hiệu quả sẽ làm giảm chi phí cho các khoản vay thúc đẩy hoạt động TCTD hiệu quả.4 Cấu trúc hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ thực hiện tốt chức năng khi có đầy đủ 03 bộ phận, mỗi bộ phận là một phân hệ của hệ thống, như sau: Phân hệ chỉ tiêu: đây chính là hệ thống các thông tin thô mà TCTD xây dựng với mục đích thu thập các thông tin cần đánh giá về khách hàng qua các chỉ tiêu này.
Bao gồm nhóm các chỉ tiêu phi tài chính và nhóm chỉ tiêu tài chính; Phân hệ thang điểm: là hệ thống thông tin tổng hợp từ ngành, lĩnh vực đã được lượng hóa theo từng mức thể hiện qua các thang đo từ thấp đến cao hoặc ngược lại nhằm mục đích lượng hóa các thông tin thô thu được từ khách hàng thông qua hệ thống các chỉ tiêu; Phân hệ ra quyết định: hệ thống chuẩn hóa các kết quả tổng hợp từ các chỉ tiêu thô thu thập được – hệ thống chỉ tiêu, xác định các kết quả đóng góp của từng chỉ tiêu vào kết quả chung – hệ thống thang điểm – và đưa ra quyết định cuối cùng về xếp hạng tín dụng khách hàng đi kèm các chính sách đã được quy định trước.5 Phân loại đối tượng xếp hạng Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau, HTXHTDNB sẽ hình thành nên một TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 hệ thống các chỉ tiêu phù hợp, cách thức chấm điểm các chỉ tiêu, cách thức xếp hạng phù hợp; Các đối tượng xếp hạng có thể được phân loại căn cứ trên những tiêu chí về quy mô, ngành nghề kinh doanh, hình thức sở hữu. Nếu tiêu chí phân loại là tiêu chí quy mô của doanh nghiệp thì doanh nghiệp bao gồm: doanh nghiệp có quy mô lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. Quy mô của doanh nghiệp thể hiện qua các chỉ tiêu: vốn, số lượng nhân viên, … Nếu tiêu chí phân loại là tiêu chí ngành nghề thì doanh nghiệp bao gồm: Nông – Lâm – Ngư nghiệp; Thương mại; Dịch vụ; Xây dựng; Sản xuất - Công nghiệp. Mỗi nhóm ngành nghề có những đặc tính tương đồng nhau (cách thức thực hiện, phương tiện thực hiện, các yêu cầu nhập lượng – xuất lượng, …) được phân cùng nhóm; Trong trường hợp doanh nghiệp hoạt động ở nhiều lĩnh vực thì xác định theo nguyên tắc hoạt động mang lại hiệu quả lớn nhất và sử dụng nhiều nguồn lực nhất của đơn vị là hoạt động chính và phân loại doanh nghiệp theo lĩnh vực này.
Nếu xét về hình thức sở hữu doanh nghiệp có thể được phân thành: doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, doanh nghiệp ngoài nhà nước (hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần), doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh) Sự hình thành các loại hình doanh nghiệp theo các hình thức sở hữu khác nhau nhằm mục đích sử dụng tối đa nguồn lực xã hội cho phát triển kinh tế. Mỗi loại hình doanh nghiệp có những lợi thế, năng động, chủ động trong quá trình hoạt động. Sự linh hoạt trong quản lý, tổ chức để đạt kết quả, hiệu quả cao là khâu then chốt quyết định sự tồn tại của nhiều loại hình doanh nghiệp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Nguyên tắc xây dựng Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ Quá trình xây dựng HTXHTDNB dựa trên các nguyên tắc sau: Các yếu tố là thông tin đầu vào phân tích được phân loại thành hai nhóm: Nhóm thông tin định lượng: là những thông tin, dữ liệu quan sát được đo lường bằng số học. Các thông tin đầu vào này có thể sử dụng các phép toán để xử lý; Nhóm thông tin định tính: là những thông tin, dữ liệu quan sát không đo lường được bằng số.
Các thông tin đầu vào này chỉ có thể sử dụng các phép toán để xử lý khi đã được mã hóa/ lượng hóa theo các quy tắc đã xây dựng trước; Các ký hiệu thể hiện mức xếp hạng, kết quả xếp hạng diễn đạt một cách đơn giản dễ hiểu theo mẫu tự latin. Cơ sở dữ liệu đánh giá thu thập phải trung thực, có nguồn gốc và mẫu đủ lớn mang tính đại diện.3 Nguyên tắc xếp hạng tín dụng Thực hiện xếp hạng tín dụng phải dựa trên các nguyên tắc thống nhất, vận dụng nhất quán, ổn định. Các nguyên tắc chuẩn mực được vận dụng cho phép việc xếp hạng được chuyên sâu, không thiên vị, đúng thời hạn và có uy tín. Các nguyên tắc như sau: Thông tin thu thập về khách hàng phải đầy đủ – liên tục, đáng tin cậy và có nguồn gốc.
Xếp hạng tín dụng trên cơ sở thông tin từng chu kỳ SXKD của khách hàng – thông thường là 01 năm – thực hiện đánh giá lại khi khách hàng có những biến động bất thường; Đánh giá rủi ro dài hạn dựa trên ảnh hưởng của chu kỳ SXKD và kèm theo xu hướng khả năng trả nợ của khách hàng; TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Xếp hạng chú ý các yếu tố ảnh hưởng ổn định dài hạn, khả năng ổn định dài hạn của khách hàng; Đánh giá rủi ro một cách toàn diện và thống nhất dựa vào hệ thống các thông tin, hệ thống thang điểm chuẩn thích hợp, hệ thống ký hiệu nhất định;… Bộ phận thực hiện xếp hạng tín dụng thực hiện công việc độc lập với bộ phận tín dụng; Tính khả đoán về khả năng sinh lợi của một khoản đầu tư được đo bằng các nhân tố thúc đẩy hoặc kiềm chế các nghĩa vụ tài chính của khách hàng. Phù hợp tình hình thực tế môi trường hoạt động, khả năng, … của các doanh nghiệp Việt Nam.4 Quy trình đánh giá và xếp hạng Khi nói đến quy trình, chúng ta thường đề cập đến các hoạt động, công việc thực hiện trong cùng một quá trình theo thứ tự định trước từ lúc khởi đầu đến khi kết thúc và ghi nhận kết quả.