CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG NHẰM HẠN CHẾ RRTD 1. KHÁI NIỆM VỀ TÍN DỤNG VÀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG.1 Lịch sử hình thành và phát triển của các tổ chức XHTD Những tổ chức xếp hạng tín nhiệm đầu tiên xuất hiện tại Mỹ, nơi thị trường trái phiếu phát triển bậc nhất, dựa vào sự lớn mạnh của các công ty đường sắt mà hầu hết là các công ty tư nhân cùng với sự phát triển của các công ty tiện ích công cộng, những đối tượng này thường có nhu cầu lớn về vốn. Bên cạnh đó do mức thu nhập của người dân Mỹ tăng nhanh, góp phần vào sự phát triển của thị trường nợ, và gián tiếp thúc đẩy sự lớn mạnh của các tổ chức định mức tín nhiệm. Năm 1909, việc xếp hạng các chứng khoán được bắt đầu với công ty John Moody chuyên xếp hạng các trái phiếu đường sắt.
Một năm sau đó, Moody’s bắt đầu xếp hạng các trái phiếu công nghiệp và tiện ích công cộng. Công ty Standard & Poor bắt đầu xếp hạng các công cụ nợ vào năm 1922 và Fitch Investors Service (Fitch’s) cũng được thành lập vào năm này. Tuy nhiên, xếp hạng tín nhiệm chỉ phát triển nhanh ở Mỹ sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933; thời kỳ này thị trường nợ có quá nhiều hàng hóa, từ trái phiếu liên bang, trái phiếu địa phương, đến trái phiếu công ty đều phát triển theo cấp số nhân và hàng loạt các nhà phát hành trái phiếu bị phá sản, vỡ nợ. Giai đoạn từ 1940 đến 1970, các tổ chức này hoạt động tương đối ổn định, thị trường nợ hoạt động tương đối an toàn và không có bước đột biến.
Trong suốt 50 năm ra đời, việc xếp hạng tín nhiệm chủ yếu phát triển trong phạm vi nước Mỹ. Trước năm 1970, ngay cả các công ty định mức tín nhiệm hàng đầu cũng chỉ có một nhóm nhân viên phân tích. Từ sau năm 1970, cùng với sự phát triển của kinh tế thế giới, bản thân các công ty đã bắt đầu xuất hiện nhóm các nhà TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 phân tích tín dụng, hoạt động xếp loại tín dụng lại khởi sắc phát triển mạnh mẽ và được cộng đồng thế giới chú ý. Ngày nay, với tiến trình toàn cầu hóa thị trường chứng khoán, nền kinh tế thế giới ngày một mạnh hơn, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm của Mỹ hoạt động ở các thị trường tài chính lớn trên khắp thế giới cũng như ở rất nhiều thị trường chứng khoán mới nổi.
Và các tổ chức định mức tín nhiệm này đã được thừa nhận rộng rãi hơn ở thị trường vốn quốc tế. Đặc biệt, các nhà đầu tư ở các thị trường phát triển thường đòi hỏi phải có việc xếp hạng tín nhiệm để họ có thể mua các trái phiếu quốc tế. Điều này đã phản ánh rõ trong việc gia tăng con số của các tổ chức định mức tín nhiệm hoạt động tại New York, Tokyo, London và gần đây nhất là Hongkong. Các tổ chức định mức tín nhiệm tầm cỡ quốc tế đã thiết lập chi nhánh của mình ở các thị trường mới nổi là nơi đang rất cần đến việc xếp hạng tín nhiệm đối với các công ty đóng trên địa bàn ở các quốc gia đó.
Trong những năm gần đây, các nhà hoạch định chính sách ở các quốc gia công nghiệp hóa mới NICs (Newly Industrialized Countries) và các nước đang phát triển ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của các cơ quan định mức tín nhiệm đối với sự phát triển của thị trường trái phiếu và tiền tệ. Những nền kinh tế năng động ở Đông Á cho thấy những thị trường trái phiếu mới xuất hiện ở đây tương đối phát triển, phần lớn là do Chính phủ tại các nước này đã có những phản ứng tích cực đối với sự phát triển của cơ cấu thị trường tài chính, bao gồm cả việc thành lập các tổ chức định mức tín nhiệm. Ở một số nước, xếp hạng tín nhiệm được áp dụng cho đối tượng vay vốn ngân hàng, bằng cách xây dựng hệ thống chấm điểm XHTD khách hàng nội bộ.2 Khái niệm về tín dụng Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ latinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm). Trong cuộc sống thì thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Trong quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng của ngân hàng thì tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, DN và các chủ thể khác). Trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.3 Khái niệm về XHTD Xếp hạng tín nhiệm (credit ratings) là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Anh (credit: sự tín nhiệm; ratings: sự xếp hạng) do John Moody đưa ra vào năm 1909 trong cuốn “Cẩm nang chứng khoán đường sắt” khi tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng tín nhiệm lần đầu tiên cho 1500 loại trái phiếu của 250 công ty theo một hệ thống ký hiệu gồm ba chữ cái ABC được xếp lần lượt từ “Aaa” đến “C” (hiện nay những ký hiệu này đã trở thành chuẩn mực quốc tế), (tham khảo phụ lục số 01). Chúng ta có thể điểm qua một số định nghĩa về xếp hạng tín nhiệm như sau: Theo Bohn, John A viết trong cuốn “Phân tích rủi ro trên các thị trường đang chuyển đổi” thì “xếp hạng tín nhiệm là sự đánh giá về khả năng một nhà phát hành có thể thanh toán đúng hạn cả gốc và lãi đối với một loại chứng khoán trong suốt thời gian tồn tại của nó”.
Theo định nghĩa của công ty chứng khoán Merrill Lynch thì “xếp hạng tín nhiệm là đánh giá hiện thời của công ty xếp hạng tín nhiệm về chất lượng tín dụng của một nhà phát hành chứng khoán nợ, về một khoản nợ nhất định. Nói khác đi, đó là cách đánh giá hiện thời về chất lượng tín dụng đang được xem xét trong hoàn cảnh hướng về tương lai, phản ánh sự sẵn sàng và khả năng nhà phát hành có thể thanh toán gốc và lãi đúng hạn. Trong kết quả xếp hạng tín nhiệm chứa đựng cả ý kiến chủ quan của chuyên gia xếp hạng tín nhiệm”. Theo tự điển thị trường chứng khoán thì “xếp hạng tín nhiệm là cách ước tính chính thức tín nhiệm từ trước đến nay của cá nhân hay công ty về khả năng chi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 trả, bao gồm tất cả các số liệu kiểm tra, phân tích, hồ sơ lưu trữ về khả năng trách nhiệm tín dụng của cá nhân và công ty kinh doanh”.
Theo công ty Moody’s thì “xếp hạng tín nhiệm là ý kiến về khả năng và sự sẵn sàng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho một khoản nợ nhất định trong suốt thời hạn tồn tại của khoản nợ”. Theo định nghĩa của Viện nghiên cứu Nomura (Nomura Research Institute): “xếp hạng tín nhiệm là sự đánh giá hiện thời về mức độ sẵn sàng và khả năng trả nợ (gốc, lãi) đối với chứng khoán nợ của một nhà phát hành trong suốt thời gian tồn tại của chứng khoán đó.” Như vậy “xếp hạng tín nhiệm” là sự đánh giá hiện thời về năng lực tài chính, tình hình hoạt động hiện tại và triển vọng phát triển trong tương lai của DN được xếp hạng, từ đó xác định được mức độ rủi ro không trả được nợ trong hiện tại và khả năng trả nợ trong tương lai. Hầu hết các công ty lớn và các tổ chức cho vay tại nhiều nước trên thế giới đều thiết lập bảng xếp hạng tín nhiệm đối với các khách hàng hiện tại cũng như tương lai của họ, theo phương pháp chấm điểm tín dụng hay còn gọi là XHTD. Với phương pháp XHTD thì đối tượng sử dụng thông tin thường là ngân hàng, các định chế tài chính, (bảng thông tin xếp hạng về người vay không được sử dụng rộng rãi), việc XHTD được sử dụng để bảo vệ lợi ích cho các tổ chức cho vay.
Khái quát thì XHTD là thuật ngữ sử dụng chung cho các nhà đầu tư, các ngân hàng, các Công ty tài chính và được hiểu như sau: XHTD là việc đưa ra nhận định về mức độ tín nhiệm đối với trách nhiệm tài chính; hoặc đánh giá mức độ RRTD bao gồm năng lực đáp ứng các cam kết tài chính, khả năng dễ bị vỡ nợ khi các điều kiện kinh doanh thay đổi, ý thức và thiện chí trả nợ của người đi vay. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Rủi ro tín dụng 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng: Thực tế, bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào cũng gặp phải rủi ro mà trong đó kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh thường hay xảy ra rủi ro nhất. Rủi ro liên quan đến việc cung cấp các sản phẩm, các dịch vụ tài chính đặc trưng, nên đôi khi một sai sót nhỏ cũng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sống còn của một ngân hàng. Rủi ro hiện hữu khách quan trong các mặt nghiệp vụ của ngân hàng: thanh toán, tín dụng, tiền gửi.
RRTD trong hoạt động ngân hàng: là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.2 Các nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng Nguyên nhân khách quan Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia công… những ngành này vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, do đó nó dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu. Ngành dệt may trong một số năm gần đây đã gặp không ít khó khăn vì chịu ảnh hưởng bởi “chế độ bảo hộ mậu dịch của các nước” làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các DN. Ngành thủy sản cũng gặp nhiều lao đao vì các vụ kiện bán phá giá cá da trơn của các DN Việt Nam khi vào thị trường Mỹ thời gian vừa qua đã thế các mặt hàng xuất khẩu của nước ta ra các nước khác gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt bởi các mặt hàng có xuất xứ từ Trung Quốc.