Chương 1: Cơ sở lý luận về xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về xếp hạng tín dụng 1. Khái niệm về xếp hạng tín dụng Hiện nay, mỗi tổ chức tài chính, tín dụng định nghĩa XHTD theo cách khác nhau: Theo Viện nghiên cứu Nomura, XHTD là đánh giá hiện tại về mức độ sẵn sàng và khả năng trả nợ gốc hoặc lãi đối với chứng khoán nợ của một nhà phát hành trong suốt thời gian tồn tại của chứng khoán đó. Theo Standards & Poor’s, XHTD là những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng, khả năng và sự sẵn sàng thanh toán các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn của một chủ thể phát hành, như một doanh nghiệp, một Chính phủ hoặc một Ủy ban nhân dân.
XHTD cũng đề cập đến chất lượng tín dụng của một khoản nợ riêng lẻ, như một trái phiếu doanh nghiệp hoặc một trái phiếu của chính quyền địa phương, và xác suất tương đối mà khoản phát hành đó có thể vỡ nợ. Theo Moody’s, XHTD là những ý kiến đánh giá về chất lượng tín dụng và khả năng thanh toán nợ của một nghĩa vụ nợ riêng lẻ hoặc của chủ thể phát hành dựa trên các kết quả phân tích tín dụng cơ bản và thể hiện thông qua hệ thống ký hiệu từ Aaa đến C. (Theo Lê Tất Thành, “Cẩm nang xếp hạng tín dụng doanh nghiệp”) Như vậy, có thể hiểu XHTD là các ý kiến đánh giá về chất lượng tín dụng và khả năng trả nợ của một đối tượng xếp hạng thông qua hệ thống xếp hạng theo ký hiệu. Phân loại và đối tƣợng xếp hạng tín dụng Một đối tượng xếp hạng có thể là một chủ thể phát hành (doanh nghiệp, Chính phủ, Ủy ban nhân dân) hoặc một khoản vay riêng lẻ (một thương phiếu/ kỳ phiếu / trái phiếu/ giấy nhận nợ của doanh nghiệp; một tín phiếu/ trái phiếu của Chính phủ/ chính quyền địa phương).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 Việc xếp hạng tín dụng thường dựa trên mức độ tin cậy ước tính của đối tượng là xếp hạng cá nhân, doanh nghiệp hoặc thậm chí là quốc gia. - Xếp hạng tín dụng cá nhân: các yếu tố có thể ảnh hưởng đến xếp hạng tín dụng cá nhân bao gồm các thông tin về nhân thân, khả năng chi trả, lịch sử tín dụng của khách hàng tại các tổ chức tín dụng, nhu cầu cấp tín dụng,. - XHTD doanh nghiệp: các yếu tố có thể ảnh hưởng đến XHTD DN bao gồm loại hình doanh nghiệp, ngành kinh tế, chỉ tiêu tài chính, chỉ tiêu phi tài chính, lịch sử tín dụng của khách hàng tại (các) tổ chức tín dụng, tính khả thi của phương án vay vốn,. - XHTD quốc gia: việc XHTD quốc gia nhằm chỉ ra mức độ rủi ro của môi trường đầu tư của một quốc gia và thường được sử dụng bởi các nhà đầu tư có nhu cầu tìm kiếm môi trường đầu tư ở một quốc gia khác.
Việc đánh giá bao gồm các loại rủi ro như rủi ro chính trị, rủi ro kinh tế, rủi ro pháp lý,. Vai trò của xếp hạng tín dụng XHTD là một trong những cơ sở để quản trị rủi ro tín dụng, nhằm hạn chế và giới hạn rủi ro, hỗ trợ các NHTM trong việc phân loại nợ và trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng, từ đó tiến tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của các NHTM. Bởi vậy, có thể nói XHTD góp phần bảo vệ sự ổn định của hệ thống ngân hàng, giúp thị trường tài chính – ngân hàng minh bạch hơn, tăng cường khả năng giám sát thị trường của các cơ quan quản lý Nhà nước và nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. Đối với Ngân hàng thƣơng mại XHTD là cơ sở để đánh giá khả năng trả nợ của đối tượng có nhu cầu cấp tín dụng góp phần phục vụ cho việc ra quyết định cấp tín dụng (cấp hay không cấp tín dụng, xác định hạn mức tín dụng, thời hạn, mức lãi suất, biện pháp bảo đảm tiền vay,.) và công tác quản lý tín dụng.
XHTD cũng hỗ trợ ngân hàng trong việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, đồng thời cũng tiến tới mục đích tối đa hóa lợi nhuận ngân hàng, nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng và góp phần bảo vệ sự ổn định của hệ thống ngân hàng, thể hiện ở những điểm chính sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Hỗ trợ phê duyệt tín dụng: cải thiện tính chính xác và hiệu lực của việc ra quyết định cấp tín dụng, cung cấp phương tiện hỗ trợ để quá trình này trở nên hiệu quả, tiết kiệm thời gian, chi phí và giảm bớt sự can thiệp của con người. Trong giai đoạn thẩm định, kết quả XHTD được sử dụng để quyết định việc đồng ý hay từ chối cấp tín dụng cho khách hàng, tối ưu hóa tỷ lệ phê các đề nghị vay vốn thông qua việc xác định một mức điểm từ chối. Thực hiện quản trị rủi ro tín dụng: XHTD là một công cụ để đánh giá mức rủi ro của khách hàng. Hệ thống XHTD chuẩn mực sẽ giúp ngân hàng đánh giá khả năng một khách hàng “tốt” hay “xấu”, cũng như xác định xác suất vỡ nợ (PD) của khách hàng.
Nhờ tích hợp trong nó các nguyên tắc, khung, chính sách và tiêu chuẩn tín dụng căn bản của ngân hàng, hệ thống XHTD tạo ra một căn cứ độc lập để TCTD đánh giá hiệu quả quá trình rủi ro của các bộ phận có trách nhiệm liên quan, bảo đảm rằng chức năng cấp tín dụng được quản lý phù hợp, các tài sản có rủi ro tín dụng nằm trong các giới hạn, thống nhất với các tiêu chuẩn thận trọng, và khả năng phát hiện sớm các khoản tín dụng xấu. Hỗ trợ xác định giá khoản tín dụng: mức giá chào cho khoản tín dụng phải phù hợp và đủ để bồi hoàn tổn thất tín dụng và tương ứng với mức độ rủi ro. XHTD phân loại các mức độ rủi ro, và là một trong những căn cứ tin cậy để xác định giá cho các khoản tín dụng, theo nguyên tắc mức XHTD thấp (rủi ro cao) sẽ tương ứng với mức giá cao và ngược lại. Hỗ trợ quản lý và quản trị khách hàng: Quan hệ khách hàng của các TCTD phụ thuộc vào mức độ XHTD của khách hàng đó.
Những khoản vay có mức rủi ro cao cần phải kiểm soát, đánh giá thường xuyên, những khoản vay có mức XHTD thấp cũng cần phải được chú trọng theo dõi. Ngược lại, những khách hàng tốt với mức XHTD cao sẽ được ưu ái hơn trong các quan hệ giao dịch. Làm căn cứ để trích lập dự phòng tín dụng: mức trích lập dự phòng các khoản tín dụng phụ thuộc vào mức độ rủi ro của khoản tín dụng đó. Mức XHTD cũng rất hữu ích trong việc xác định khoản vốn cần thiết để “hấp thụ” đủ những tổn thất tín dụng bất thường ngoài dự kiến.
Để bù đắp cho tổn thất tín dụng các TCTD TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 cũng áp dụng chính sách bảo đảm tín dụng phù hợp với mức độ rủi ro của khoản cấp tín dụng, theo đó các khoản cấp tín dụng có mức rủi ro cao (XHTD thấp) sẽ phải có mức bảo đảm tín dụng cao và ngược lại. Hỗ trợ công tác quản lý thông tin (MIS) theo danh mục và tạo lập báo cáo: Dữ liệu đưa vào hệ thống XHTD là rất đa dạng, phong phú và thuộc nhiều loại trường thông tin khác nhau liên quan đến hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng như của khoản cấp tín dụng. Hơn nữa hệ thống XHTD thường được các TCTD thiết lập nền tảng công nghệ tin học cao, cho phép chiết xuất, quản lý các thông tin theo từng danh mục yêu cầu và đưa ra hệ thống báo cáo hiệu quả. Đối với Chính phủ, thị trƣờng tài chính và nền kinh tế XHTD giúp thị trường minh bạch hơn, tăng cường khả năng giám sát thị trường của Chính phủ, nâng cao hiệu quả của nền kinh tế và có thể góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế bằng cách giúp mở rộng khả năng tiếp cận với thị trường tín dụng, giảm chi phí tín dụng, giảm nợ quá hạn, nợ xấu,.
Đối với nhà đầu tƣ XHTD giúp nhà đầu tư có thêm công cụ để đánh giá rủi ro tín dụng, giảm thiểu các chi phí về thu nhập, phân tích và giám sát khả năng trả nợ của các tổ chức phát hành trái phiếu hoặc các công cụ tài chính,. Đối với doanh nghiệp XHTD giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường vốn trong và ngoài nước và giảm bớt sự phụ thuộc vào các khoản cấp tín dụng của ngân hàng. XHTD là cơ sở để đánh giá năng lực của doanh nghiệp, tạo sự bình đẳng, cạnh tranh hơn trong hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp, có nhiều cơ hội tiếp cận nguồn vốn với lãi suất hoặc các điều kiện ưu đãi từ ngân hàng,., nguồn vốn cũng được chuyển giao đến doanh nghiệp tốt để tiếp tục thúc đẩy các doanh nghiệp này phát triển. Các phƣơng pháp xếp hạng tín dụng Hiện nay hệ thống XHTD thường được phát triển theo ba phương pháp là phương pháp chuyên gia, phương pháp mô hình toán học và phương pháp hỗn hợp; trong đó, phương pháp xếp hạng hỗn hợp được các TCTD sử dụng phổ biến nhất.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Những tổ chức XHTD lớn, có uy tín trên thế giới như Standard and Poor’s, Moody’s, Fitch,… có thể phát triển các phương pháp riêng nhưng về cơ bản vẫn dựa trên phân tích định tính và định lượng đưa ra các hệ thống chỉ số XHTD đặc trưng của mình. Phương pháp chuyên gia: Để đánh giá khả năng thanh toán nợ của đối tượng cần xếp hạng, các nhà phân tích (trên cơ sở kết hợp của một nhóm chuyên gia) sẽ dựa trên các thông tin từ báo cáo của đối tượng cần xếp hạng, thông tin thị trường, thông tin phỏng vấn từ lãnh đạo doanh nghiệp,…để đánh giá tình hình tài chính, quản trị doanh nghiệp, chiến lược và chính sách quản trị rủi ro của doanh nghiệp,…từ đó đưa ra mức xếp hạng.