Chương 1 Giới thiệu và Tổng quan lý thuyết 1.1 Hệ thống IoT Thuật ngữ IơT lần đầu được dé cập vào năm 1999 ra bởi Kevin Ashton, người đã thành lập Trung tâm Auto-ID thuộc MIT. Cũng trong năm đó, IBM đã phát triển giao thức giữa máy với máy đầu tiên cho các thiết bị được kết nối và đặt tên là MQTT 8Ì. Kể từ đó, các tổ chức khác cũng đã đề xuất định nghĩa cho thuật ngữ này. Ví dụ, Tổ chức Viễn thông Quốc tế (ITU) đã sử dụng thuật ngữ IoT trong báo cáo năm 2005, và sau đó vào năm 2012, IoT được định nghĩa nó là cơ sở hạ tang toàn cầu cho xã hội thông tin, cung cấp các dich vụ tiên tiến bằng cách kết nối các vật thé và ảo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông có thể tương tác với các hệ thống hiện có và đang phát triển hoặc một mạng có sẵn ở mọi nơi, mọi lúc, bởi mọi thứ và bat kỳ ai.
Tương tự, IEEE đã định nghĩa IoT là một mạng gồm các cảm biến được kết nối với Internet [8Ì. ETSI, được EU chính thức công nhận là Tổ chức Tiêu chuẩn Châu Âu, sử dụng thuật ngữ máy-với-máy (M2M) thay vì IoT và mô tả đó là giao tiếp giữa hai hoặc nhiều thực thể không nhất thiết cần bat ky sự can thiệp nào của con người. Các dịch vụ M2M nhằm mục đích tự động hóa quá trình ra quyết định và giao tiếp. NIST cũng sử dụng Hệ thống vật lý mang để mô tả IoT và định nghĩa nó là một cách mới để kết nỗi các đối tượng được sử dung hàng ngày nhằm nâng cao hiệu quả, tính bền vững và cải thiện chất lượng cuộc sống.1 Hệ thống IoT 7 Kiến trúc IoT Mang IơT đòi hỏi một thiết kế linh hoạt và phân tang để kết nối các thiết bị khác nhau, nhưng không có một mô hình tham chiếu chung nào cho kiến trúc IơT.
Kiến trúc IoT ba tang được chấp nhận rộng rãi và sử dụng trong các tài liệu. Theo đó, kiến trúc IoT được xác định theo 3 tang gồm: ứâng cảm nhận - Perception, tang mạng - Networking va tang ứng dụng - Applications. Ñó cung cấp một khung sườn rõ ràng và ngắn gon để thiết kế các hệ thống IoT, dễ hiểu hơn so với kiến trúc năm tang. Tuy nhiên, lựa chọn kiến trúc phụ thuộc vào trường hợp sử dụng cụ thể và yêu cầu của hệ thống đang được thiết kế.1|minh họa kiến trúc ba tầng của IoT, bao gồm tang cảm nhận, tầng mạng và tầng ứng dụng.
Applications Networking Hình 1.1 — Kiến trúc của hệ thống IoT Tầng cảm nhận bao gồm cảm biến, thiết bị điều khiển và các thiết bị khác tương tác với môi trường vật lý. Tầng mạng chịu trách nhiệm kết nối các thiết bị trong tầng cảm nhận với đám mây hoặc các hệ thống khác. Tầng ứng dụng là nơi dữ liệu được xử lý, phân tích và sử dụng để đưa ra quyết định. Perception Layer Lớp cảm nhận trong kiến trúc IoT bao gồm các thành phần như cảm biến, bộ điều khiển, bộ kích hoạt và máy móc.
Lớp này xử lý việc thu thập thông tin, xử lý thông tin, lưu trữ thông tin và nhận dạng đối tượng. Việc đặt tên và địa chỉ các đối tượng 1.1 Hệ thống IoT 8 IơT cũng được thực hiện bởi lớp nay. Các thiết bi trong IoT được theo dõi bằng các số định danh Độc Nhất Toàn Cầu (UUID). Các kỹ thuật địa chỉ tương tự, như IPv6 và IPv4, được sử dụng để đánh địa chỉ các đối tượng trong mạng IoT.
Network Layer Để truyền dữ liệu đến các hệ thống xử ly, như máy chủ, lớp mang của một mô hình IoT sử dụng nhiều phương pháp giao tiếp khác nhau giữa các thiết bị vật lý. Giao tiếp này chỉ có thể được thực hiện qua các kết nối an toàn thông qua dây hoặc không dây. Lớp này có thể được mở rộng cho việc truyền dữ liệu cảm biến. Một số phương pháp giao tiếp cho các thiết bị IoT được dé cập trong các tài liệu hiện có như Wi-Fi, Bluetooth, ZigBee cho các khu vực nhỏ, và 4G và 5G cho môi trường IoT rộng lớn.
Tầng ứng dụng Tầng ứng dung trong mô hình IoT hoạt động như một giám sát viên cho các dịch vụ chuyên biệt của ứng dụng IoT. Tự động hóa trong gia đình, nông nghiệp thông minh, thành phố thông minh, chăm sóc sức khỏe thông minh, và công nghiệp thông minh là những vi dụ về các ứng dụng IoT mà tang ứng dụng quản lý.1 Hạ tang IoT Cơ sở ha tang IoT phức tạp, da tang va được thiết kế đặc biệt để tạo điều kiện cho việc trao đổi, xử lý và phân tích dữ liệu trên một mạng lưới lớn các thiết bị liên kết và phụ thuộc vào ba yếu tổ quan trọng: các lớp đám mây (cloud), lớp sương mù (fog) và lớp biên (edge), mỗi lớp phục vụ một mục đích riêng như được mô tả trong Hình[I. Lớp đám mây là kho lưu trữ trung tâm nơi lượng lớn dữ liệu được lưu trữ, xử lý và phân tích trên quy mô lớn. Đám mây cung cấp khả năng lưu trữ và tính toán không giới hạn, tạo điều kiện cho việc phân tích phức tạp và sâu.
Cơ sở hạ tầng IơT được thiết kế để có thể mở rộng, điều chỉnh công suất dựa trên lượng dữ liệu nhập vào từ hệ sinh thái. Lớp sương mù, được biết đến rộng rãi như là tính toán sương mù, hoạt động như một trung gian xử lý trung tâm giữa các thiết bị biên và đám mây trung tâm.1 Hệ thống IoT 9 đặt gần nguồn dữ liệu hơn so với các trung tâm dữ liệu tập trung nhưng phân tán rộng rãi hơn so với biên, các nút sương mù có thể xử lý dữ liệu một cách địa phương, do đó đưa ra quyết định theo thời gian thực và giảm bét nhu cau cho tat cả dữ liệu phải di chuyển đến đám mây. Điều này dẫn đến việc giảm độ trễ và nâng cao hiệu suất sử dụng băng thông. Lớp cạnh nằm liền kề với lớp sương mù và hoạt động càng gần với các thiết bị IơT hơn.
Tính toán cạnh cho phép các thiết bị xử lý dữ liệu ngay tại chỗ, ngay cả trước khi nó đạt đến lớp sương mù. Bang cách xử lý ngay lập tức nhu cầu xử lý dit liệu, nó tiếp tục tối ưu hóa dữ liệu cần được gửi đến hệ thống trung tâm, bảo toàn băng thông và đảm bảo các hành động kịp thời. Một thành phần thiết yếu khác của cơ sở hạ tầng IoT là các Cổng kết nối. Chúng đóng vai trò như những bộ kết nối giữa các thiết bị IoT và mạng truyền thông, cho phép truyền dữ liệu giữa những thiết bị này và các nền tảng quản lý hoặc lưu trữ dựa trên đám mây.
Ngoài chức năng chuyển tiếp dữ liệu, các cổng còn có khả năng thực hiện xử lý và phân tích dữ liệu tại chỗ, do đó cho phép ra quyết định theo thời gian thực mà không cần đến nguồn lực dựa trên đám mây. Điều này đặc biệt có lợi trong các ứng dụng mà độ trễ là quan trọng hoặc khi lượng dữ liệu sinh ra bởi các thiết bị quá lớn để liên tục gửi đến một máy chủ tập trung. Ngoài khả năng truyền dẫn và xử lý, các cổng còn cung cấp một lớp bảo mật thêm cho các hệ thống IoT. Bang cách đóng vai trò là một trung gian, chúng có thể triển khai IDS, xác thực các thiết bị và lọc bỏ lưu lượng không mong muốn, bảo vệ các thiết bị dễ bị tổn thương và đảm bảo chỉ có dữ liệu hợp lệ và an toàn mới được truyền đến đám mây hoặc các thiết bị khác.2|cho thấy một vi du về các cổng IoT được kết nối với mang IoT.2 Những thách thức trong bao mật hệ thong IoT Nhiều thách thức về bảo mật trong các thiết bi IoT là do thị trường tăng trưởng nhanh và sự phát triển nhanh chóng thường dẫn đến việc không chú trọng đến bảo mật khi phát triển chúng 2Ì.
Các phần khác của thách thức được sinh ra do tính dé cấu hình mà hầu hết các thiết bị đều có thể được thực hiện bởi những người không có kỹ thuật và kết quả là chúng tôi thấy nhiều thiết bị để lại thông tin xác thực mặc định và phần mềm chưa được vá lỗi và lỗi thời [32]. Có nghiên cứu [10] đã phân loại các thách 1.1 Hệ thống IoT 10 Hình 1.2 — Cloud, Fog và Edge Computing trên IoT thức bảo mật của IoT thành bốn nhóm. Nhóm thách thức dau tiên liên quan đến các van dé liên quan đến xác thực có thể được liên kết trực tiếp với lớp nhận thức với các mối đe doa vật lý do khả năng truy cập của các thiết bị IơT. Các vấn dé về tính bảo mật như tên của nó, liên quan đến tính bảo mật của các giao thức truyền thông và phương tiện truyền dif liệu trong mạng.
Tính toàn vẹn như một nguyên tắc bảo mật chính khác là van dé đáng quan tâm khi dữ liệu có thể bị sửa đổi trong quá trình truyền hoặc thậm chí bị gián đoạn do các cuộc tấn công từ chối dịch vụ. Do đó, tính toàn vẹn và tính sẵn sàng đã được xem xét trong cùng một nhóm các thách thức bảo mật trong nghiên cứu này. Những thách thức về quyền riêng tư là nhóm cuối cùng được tập trung đáng kể trong thời gian gần đây. Vì các thiết bị IoT sẽ xử lý dữ liệu quan trọng và bí mật nên chính sách xử lý những dữ liệu này và giữ chúng an toàn mà không cần biết nhiều về chúng là một thách thức khác.
Các giải pháp bảo mật có thể không thực hiện được việc kiểm tra sâu gói tin để phát hiện các điểm bat thường do chính sách quyền riêng tư và nguồn lực hạn chế. Một lượng tài nguyên hạn chế để xử lý là một trong những thách thức chính này, đặc biệt là trong lĩnh vực mã hóa và phát hiện xâm nhập. Bắt chấp tất cả những điều này, nhiều nhà nghiên cứu tin rằng việc thiếu một nên tảng chung và các tiêu chuẩn kiến trúc bảo mật cho IơT là một van dé lớn cần được giải quyết ngay lập tức.1 Hệ thống IoT 11 thức được các thách thức, van dé và sự cố bảo mật IoT là điểm mau chốt đối với các nhà sản xuất và nhà phát triển trong lĩnh vực này. May mắn thay, OWASP đã bắt đầu một dự án IoT để nâng cao nhận thức về những thách thức bảo mật đã đề cập.
Dự án này giúp các nhà sản xuất, nhà phát triển và người tiêu dùng hiểu các vấn đề bảo mật và cho phép họ đưa ra quyết định tốt hơn trong quá trình xây dựng, triển khai và đánh giá các công nghệ IoI.