CHƯƠNG 1. NGUY CƠ MẤT AN TOÀN AN NINH MẠNG 1. Tổng quan chung về tình hình an ninh mạng Hiện nay, với sự phát triển bùng nổ và mạnh mẽ của máy tính và Internet, chúng ta đã thấy được sự xuất hiện của máy tính ngày càng trở nên phổ biến và có mặt ở hầu hết các khía cạnh cuộc sống của con người. Thế giới cũng đang chứng kiến cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với sự phát triển bùng nổ các loại khoa học kỹ thuật mới, trong đó những yếu tố cốt lõi chính là Trí tuệ nhân tạo (AI), Vạn vật kết nối - Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data).
Sự phát triển của công nghệ giúp cho mọi thiết bị xung quanh chúng ta trở nên thông minh hơn và kết nối với nhau nhiều hơn, tạo ra một mạng lưới chia sẻ dữ liệu rộng lớn và ngày càng dễ dàng giữa các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức, các nhà cung cấp dịch vụ. trong mọi lĩnh vực từ kinh tế, xã hội, y học, kỹ thuật, quân sự và cả văn hóa. Tuy nhiên, đi cùng với sự phát triển, chia sẻ thuận tiện này cũng tạo nên ngày càng nhiều hiểm họa an toàn, an ninh thông tin. Khi mà mọi hoạt động con người đều được thực hiện qua các kết nối mạng thì thông tin giờ đây chính là tài sản quý giá nhất; mang tính quyết định việc thành bại của mỗi công ty, doanh nghiệp.
Những dữ liệu, thông tin này luôn đứng trước nguy cơ tấn công từ các đối thủ cạnh tranh, hacker, tội phạm mạng… Chính vì nguồn lợi nhuận khổng lồ thu được từ việc đánh cắp dữ liệu, trong những năm trở lại đây đã đánh dấu sự bùng nổ và phát triển mạnh mẽ của tội phạm mạng. Theo báo cáo thống kê của Norton năm vừa qua ước tính có khoảng 556 triệu nạn nhân bị tấn công và tính tính trung bình cứ mỗi 1 giây có 18 nạn nhân bị tấn công. Trong số các nạn nhân bị tấn công có tới hai phần ba nạn nhân kết nối internet là mục tiêu tấn công và 46% mục tiêu bị tấn công trong năm vừa qua là nạn nhân của các cuộc tấn công như mã độc, virus, hacking, lừa đảo, đánh cắp dữ liệu. Ước tính nguồn lợi nhuận thu được của tội phạm mạng từ các hành động tấn công, đánh cắp, lợi dụng dữ liệu trong năm vừa qua đạt 110 tỷ USD.
Lợi ích từ việc đánh cắp dữ liệu đã tạo ra một sự phát triển bùng nổ về số lượng các cuộc tấn công và quy mô các cuộc tấn công cũng như thay đổi cách thức hoạt động của tội phạm mạng. Để có thể tối ưu hóa lợi nhuận thu được, tội phạm 4 mạng đã đầu tư hơn cho việc nghiên cứu phát triển các cuộc tấn công về quy mô, chất lượng và mức độ ảnh hưởng của các cuộc tấn công. Vài năm gần đây đã đánh dấu sự thay đổi về cách thức hoạt động của tội phạm mạng khi chuyển dịch từ hoạt động đơn lẻ sang hoạt động có tổ chức. Mỗi chiến dịch tấn công đều được chúng lên kế hoạch rõ ràng và chuẩn bị kỹ lưỡng.
Không những thế tội phạm mạng còn đầu tư kinh tế, nguồn lực, trí tuệ cho nghiên cứu, phát triển thêm nhiều kỹ thuật tấn công mới, tinh vi hơn và khó phát hiện hơn. Đặc biệt, chúng ta đã chứng kiến một bước phát triển đột phá của tội phạm mạng khi công nghiệp hóa ngành mã độc. Những công cụ tấn công, phần mềm mã độc, lỗ hổng phần mềm được mua bán công khai và tất cả mọi người đều có thể sở hữu một công cụ có khả năng tấn công, đánh cắp dữ liệu của tổ chức, doanh nghiệp một cách dễ dàng. Điều này có nghĩa là an ninh, an toàn thông tin của tổ chức đang đứng trước nguy cơ dễ dàng bị vi phạm khi phải đổi mặt với không chỉ là những tên tội phạm mà còn là những người có hành vi phá hoại hoặc đôi khi là muốn học hỏi, tìm tòi thỏa sức tò mò chỉ cần họ có một công cụ tấn công.
Trực quan dựa vào “Sơ đồ bối cảnh và sự phát triển các nguy cơ an toàn thông tin” bên dưới, ta có thể nhận thấy, từ những năm 1980s đến nay, mức độ nguy hiển của những Script Kiddies (những kẻ tấn công sử dụng các mã độc có sẵn trên mạng mà không cần kiến thức chuyên sâu về tấn công mạng) ngày càng gia tăng, chứng tỏ rằng nguy hiểm từ tấn công mạng dựa trên các mã độc “sẵn có” từ những Script Kiddies hiện tại đang lớn đến mức nào. Hình 1 Sơ đồ bối cảnh và sự phát triển các nguy cơ an toàn thông tin 5 Việt Nam đang là quốc gia có tốc độ phát triển về công nghệ thông tin nhanh nhất tại khu vực Đông Nam Á, vì vậy cũng là mục tiêu tấn công của tội phạm mạng toàn cầu. Tại Việt Nam, các cuộc tấn công mạng cũng ngày càng gia tăng về số lượng lẫn mức độ nguy hiểm của cuộc tấn công. Một số vụ tấn công lớn có thể kể đến như vụ tấn công website BKAV tháng 2/2012 khiến website bị deface và lộ hơn 100.000 địa chỉ email, mật khẩu diễn đàn.
Tiếp đến vào tháng 10/2014, nhiều website lớn của VCCorp như kenh14, Gamek, Genk, CafeF … và một số website do VCCorp vận hành kỹ thuật như Dân trí, Soha, Người lao động bị tấn công ngưng hoạt động hoặc chuyển hướng đến một website thông tin tiêu cực. Sự cố đã gây thiệt hại cho VCCorp hàng chục tỷ đồng. Cũng không thể không kể đến các cuộc tấn công vào Công ty Vinagame năm 2015 làm lộ thông tin cá nhân hơn 160 triệu tài khoản. Hay như gần đây vụ tấn công Tổng công ty Hàng không Việt Nam Vietnam Airlines năm 2016 gây ảnh hưởng thông tin cá nhân của 411.000 người dùng, chiếm đoạt hệ thống thông báo sân bay.
Thiệt hại của những cuộc tấn công này không chỉ về tiền bạc mà còn ảnh hưởng tới uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Sự gia tăng của các chiến dịch tấn công có chủ đích (APT) của tin tặc trong những năm gần đây chính là lời cảnh tỉnh rõ nhất cho chúng ta về vấn đề cấp thiết của việc xây dựng hệ thống giám sát, đảm bảo an toàn thông tin; phát hiện và ngăn chặn xâm nhập trái phép trên các hệ thống thông tin quan trọng tại mỗi tổ chức, doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước. Các mối đe dọa an ninh mạng Các cuộc tấn công Cyber Attack thường sẽ nhằm vào một trong những tính chất sau của hệ thống: - Tính toàn vẹn: Intergrity. - Tính bảo mật: Confidentiality.
- Tính khả dụng: Availability. Trong phần này ta sẽ đi sâu hơn vào phân tích cụ thể những nguy cơ hiện tại tấn công vào 3 yếu tố trên trong một hệ thống.1 Intergrity Các cuộc tấn công về tính toàn vẹn thường là những cuộc tấn công nhằm mục đích phá hoại hệ thống, phá hoại dữ liệu. Mục đích cũng như phương thức của các cuộc 6 tấn công này rất đa dạng và càng ngày càng tinh vi, đòi hỏi hệ thống bảo mật phải cập nhật thường xuyên trong cuộc chạy đua này. Một số phương thức tấn công phá hoại thông tin, dữ liệu như sau: - DoS/DDoS (Denial of Service/Distributed Denial of Service): Là phương thức tấn công làm cho người dùng không thể sử dụng dịch vụ bằng cách tạo nhiều truy cập giả cùng truy cập chiếm tài nguyên dịch vụ.
- Ransomware: Là phương thức mã hóa toàn bộ dữ liệu người dùng, bắt người dùng phải chi trả tiền chuộc để giải mã hóa dữ liệu. - Virus/Trojan: Là phương thức sử dụng mã độc phá hủy nội dung dữ liệu, có khả năng lây lan nhanh và phạm vi phá hoại lớn.2 Confidentiality Các cuộc tấn công về tính bảo mật thường là ăn cắp (hoặc đúng hơn là sao chép) thông tin trên nhiều phương diện (ví dụ như thông tin cá nhân như tài khoản ngân hàng, tài khoản ví điện tử, hay thông tin mật doanh nghiệp). Một số các phương thức tấn công nhằm vào tính bảo mật thông tin như sau: - Keylog: Là phương thức sử dụng các phần mềm ẩn nhằm thu thập thông tin về hành vi sử dụng của người dùng. Với việc thu thập hành vi sử dụng, hacker có thể dễ dàng có được các thông tin tài khoản, mật khẩu của người dùng.
- RAT: Là phương thức sử dụng các phần mềm RAT (như teamview RAT) để chiếm quyền điều khiển máy tính bất hợp pháp, từ đó có thể khai thác/phá hoại thông tin dữ liệu. - Phishing: Là phương thức sử dụng các đường link giả, hướng người dùng sử dụng các đường link ấy để cài mã độc (keylog, RAT, virus, …) vào máy của người dùng. Phishing qua email/chat là một hình thức tấn công khá phổ biến hiện nay, hướng tới phần đông người dùng thiếu kiến thức cơ bản về bảo mật. - Malware/Virus: Tương tự với mục đích phá hoại dữ liệu, phương thức sử dụng mã độc để đánh cắp dữ liệu cũng rất phổ biến.3 Availability Bất cứ hệ thống nào trên thế giới đều có nguy cơ bị tấn công.
Ngay cả đối với những tập đoàn lớn mạnh, họ có một đội ngũ chuyên nghiệp về bảo mật, nguy cơ bị tấn công vẫn rất cao. Và thực tế cho thấy, trong quá khứ, hệ thống của họ đã 7 từng bị tấn công. Nếu hệ thống chỉ đầu tư bảo mật ở phần “đánh chặn”, ngăn chặn các cuộc tấn công, mà không chú trọng đến phần “phục hồi” sẽ luôn luôn rơi vào trạng thái bị động. Các hệ thống hiện tại luôn được chú trọng nhất đến tính khả dụng, sẵn sàng đáp ứng 24/7/365.
Vì vậy, nếu không có phương án back-up, chỉ cần một cuộc tấn công Cyber Attack cũng sẽ gây tê liệt một phần, thậm chí toàn bộ hệ thống.3 Tổng quan các phương pháp bảo mật trong an ninh mạng 1.1 Tường lửa – Firewall Hình 2 Mô hình Firewall đơn giản Firewall là một kỹ thuật được tích hợp vào hệ thống mạng để chống sự truy cập trái phép, nhằm bảo vệ các nguồn thông tin nội bộ và hạn chế sự xâm nhập không mong muốn vào hệ thống của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan chính phủ. Cũng có thể hiểu Firewall là một cơ chế để bảo vệ mạng tin tưởng (Trusted network) khỏi các mạng không tin tưởng (Untrusted network). Firewall là một thiết bị phần cứng, phần mềm hoặc là cả hai kết hợp với nhau. Thông thường Firewall được đặt giữa mạng bên trong (Intranet) của một công ty, tổ chức, ngành hay một quốc gia, và Internet.
Vai trò chính là bảo mật thông tin, ngăn chặn sự truy nhập không mong muốn từ bên ngoài (Internet) và cấm truy nhập từ bên trong (Intranet) tới một số địa chỉ nhất định trên Internet.