PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Rủi ro tín dụng RRTD là một trong những rủi ro chủ yếu, có tác động mạnh m đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại NHTM. RRTD xảy ra còn tác động đến khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp, từ đó tác động tiêu cực đến tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Hệ thống quản trị RRTD QTRRTD của một ngân hàng thực hiện sứ mệnh đảm bảo cho ngân hàng luôn kiểm soát rủi ro ở mức độ hợp lý mức rủi ro ngân hàng có thể chấp nhận phù hợp với qui mô và bản chất kinh doanh tín dụng của ngân hàng và đạt được lợi nhuận cao nhất.
Để đạt được mục tiêu đó thì xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm RRTD có ý nghĩa vô cùng lớn trong khâu giám sát sau cho vay. Các nghiên cứu lý luận và thực tế cho thấy, nhiều ngân hàng trên thế giới có hiệu quả hoạt động tốt nhờ chú trọng công tác cảnh bảo sớm RRTD và xây dựng hệ thống cảnh báo sớm RRTD hiệu quả nhằm phát hiện sớm các khoản vay có khả năng rủi ro cao để đưa ra biện pháp ngăn chặn và giảm thiểu rủi ro từ sớm. Hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 tại Mỹ, có thể nhận thấy rõ qua số liệu thống kê về số vụ tố tụng do mất khả năng thanh toán tăng vọt từ 95.653 vụ năm 2012 theo báo cáo của Federal Statistical Office, 2013. Hậu quả này tác động đáng kể lên lợi nhuận của ngân hàng.
Khi khối lượng nợ xấu tăng lên thì đòi hỏi về cảnh báo sớm các khoản nợ mất khả năng thanh toán trong tương lai được đẩy mạnh tại hầu hết các NHTM tại Mỹ Michael Strumpf, Christian Schaefle, 2015. Có thể hiểu là xu hướng này đã thúc đẩy sự giám sát của các NHTM Mỹ và đây được coi là mục tiêu chính cho những qui định mới nhất về quản trị RRTD của các NHTM Mỹ. Nguyên t c tổng hợp dữ liệu rủi ro hiệu quả do ngân hàng thanh toán quốc tế BIS công bố trong giai đoạn này cũng liên quan đến việc quản lý các khoản vay và phát hiện sớm vỡ nợ. Trọng tâm thực tế của các ngân hàng nên tập trung vào việc phát hiện sớm và giảm thiểu rủi ro vỡ nợ, từ đó giảm khối lượng cho vay thực sự vỡ nợ và giảm gánh nặng RRTD lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Phương thức hiệu quả nhất chống lại sự vỡ nợ của các khoản vay là xác định sớm các khoản nợ có rủi ro, để có đủ thời gian thực hiện các biện pháp phòng ngừa tổn thất như: chuyển đổi tiền mặt, thay đổi kì hạn 2 khoản vay,hoặc cấu trúc lại khoản vay. Có đủ thời gian để thực thi các giải pháp là vấn đề quan trọng nhất trong việc xử lý thành công hay không các khoản nợ có rủi ro. Hệ thống cảnh báo sớm đưa ra các kết quả kịp thời và chính xác s đem lại hiệu quả lớn trong hoạt động của các NHTM. Các nhà phân tích tại Earnst & Young nhận định rằng vào cuối năm 2013 khi hệ thống cảnh báo sớm được chú trọng, 7,8% số tiền vay (tương đương 940 tỷ EUR) là các khoản nợ xấu đã được xoá khỏi khu vực EURO- đây được xem là một kỉ lục mới1.
Thực tế này cho thấy một hệ thống cảnh báo sớm RRTD hiệu quả và kịp thời có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động của các NHTM. Hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam phát triển theo hướng tăng quy mô và tốc độ tăng trưởng, tuy nhiên với những biến động bất lợi của nền kinh tế khiến chất lượng tín dụng không ổn định. Các NHTM Việt Nam vẫn phân loại nợ chủ yếu dựa vào thời hạn mà không đánh giá được một cách chính xác tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này dẫn đến việc phân loại nợ vào nhóm không phản đúng thực chất khoản nợ.
Ngoài ra, việc s p xếp lại các khoản nợ, đưa nợ ra ngoại bảng và cơ cấu lại nợ đã làm cho tỷ lệ nợ xấu giảm đáng kể. Hơn nữa một phần nợ xấu đáng kể đã được chuyển từ NHTM cho công ty quản lý tài sản Việt Nam (VAMC), nên có một sự chênh lệch đáng kể về con số nợ xấu theo công bố của hệ thống NHTM được tính theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS. Theo công bố của các NHTM Việt Nam tỷ lệ nợ xâú của toàn hệ thống cuối năm 2018 là dưới 3% nhưng theo các tổ chức xếp hạng thế giới thì con số nợ xấu của các NHTM Việt Nam thời điểm này phải trên 7%. Thực trạng công tác QTRRTD tại các NHTM Việt Nam hiện nay phần lớn chỉ chú trọng đến xử lý RRTD mà chưa có sự quan tâm đúng mức đến phòng ngừa RRTD, đặc biệt là giám sát tín dụng sau khi cho vay để phát hiện RRTD ở giai đoạn sớm nhằm có các biện pháp phòng ngừa rủi ro phù hợp, hạn chế thấp nhất tổn thất tín dụng có thể xảy ra.
Do những hạn chế trong công tác cảnh báo sớm RRTD nên RRTD thường chỉ được phát hiện khi khoản vay đã trở thành nợ quá hạn, nợ xấu, khiến cho các biện pháp quản trị RRTD không đạt được hiệu quả như mong muốn. Nhiều NHTM còn chưa xây dựng được hệ thống cảnh báo sớm RRTD như yêu cầu cơ bản của thông tư 41 hướng tới. 1 EY Eurozone Financial Services Forecast 3 Trong thời kỳ tái cấu trúc và nỗ lực để đạt các tiêu chuẩn an toàn theo thông lệ quốc tế, để nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như vị thế của các NHTM Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, thì việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm RRTD có vai trò sống còn đối với hoạt động của các NHTM Việt Nam. Do vậy, nghiên cứu: “Hệ thống cảnh báo sớm rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam” có tính cấp thiết trên cả khía cạnh lý luận và thực tiễn.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Vấn đề cảnh báo sớm RRTD tại các NHTM đã có nhiều công trình, đề tài trong và ngoài nước dưới dạng bài nghiên cứu trên tạp chí, luận văn, luận án. theo những hướng khác nhau như: a. Khái quát hoá về hệ thống cảnh báo sớm (i) Khái niệm hệ thống cảnh báo sớm và hệ thống cảnh báo sớm RRTD Khái niệm ng n gọn nhưng toàn diện về hệ thống cảnh báo sớm Early Warning Systems- EWS được đưa ra bởi Yap 1998, p.2 : “Ý tưởng cơ bản là theo dõi các biến kinh tế trọng điểm để giúp những người làm chính sách dự đoán một cuộc khủng hoảng, cho phép họ có đủ thời gian để phòng ngừa và tối thiểu hóa những tác động tiêu cực của nó”. Hệ thống cảnh báo sớm là một công cụ thống kê phức tạp, được thiết kế để giám sát các biến kinh tế và tài chính, định lượng khả năng suy giảm và phát hiện sớm dấu hiệu suy giảm.
Các nghiên cứu trước đây về các hệ thống cảnh báo sớm đã chia chúng thành hai nhóm cơ bản: - Các hệ thống cảnh báo sớm thuộc về hoạt động giám sát vi mô, mục đích chính là để phát hiện trong giai đoạn phôi thai, sự suy yếu năng lực tài chính của các TCTD. Các biến được xác định cơ bản dựa trên báo cáo tài chính của ngân hàng. Một số nghiên cứu điển hình về loại này như: Thomson 1991 ; Bernhardsen (2001); Halling, Hayden (2006); Brossard, Ducrozet, Roche 2007. Loại hệ thống cảnh báo sớm này n m b t được các yếu tố nội tại liên quan cụ thể đến hoạt động của các TCTD có khả năng tạo ra sự tổn thất hoặc thậm chí là khủng hoảng ngân hàng.
- Các hệ thống cảnh báo sớm được hỗ trợ bởi giám sát vĩ mô, nhằm phát hiện nguy cơ rủi ro hệ thống ngân hàng dựa trên tín hiệu được cung cấp bởi các biến kinh tế 4 vĩ mô. Thông thường, bất ổn kinh tế vĩ mô giống như một chất xúc tác, làm trầm trọng hơn những lỗ hổng tiềm tàng trong các ngân hàng, và tạo ra sự khủng hoảng trong toàn bộ hệ thống ngân hàng. Có nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã kiểm tra mối quan hệ nhân quả giữa các biến kinh tế vĩ mô và đặc trưng của các thể chế, khả năng của khủng hoảng ngân hàng như: Yap 1998 ; Hutchison, McDill 1999 ; Demirguc, Detragiache (1999); Edison (2003). Theo định nghĩa của ngân hàng Slovenia 2015 , hệ thống cảnh báo sớm đối với RRTD được hiểu là hệ thống nhằm mục đích cảnh báo sớm sự tăng lên của RRTD, ngoài ra hệ thống cảnh báo sớm RRTD còn có mục đích đưa ra những hành động hiệu quả, kịp thời để chống lại quá trình chuyển sang trạng thái mất khả năng trả nợ của KH vay vốn.
Kết quả của hệ thống cảnh báo sớm RRTD nhằm nhận diện và phân loại những KH có nguy cơ RRTD, đưa họ vào danh sách theo dõi đặc biệt hoặc chuyển cho những đơn vị quản lý và xử lý chuyên trách để quản lý hiệu quả và toàn diện hơn. Nghiên cứu của Mahen Priyanka Peiris 2016 và khuyến nghị của uỷ ban Basel (2006) cũng đưa ra những khái niệm nữa về hệ thống cảnh báo sớm, đó là một tập hợp các quy trình được hướng dẫn để xác định rủi ro ở giai đoạn sớm. Theo nghiên cứu này thì hệ thống giám sát và cảnh báo RRTD hiệu quả có thể làm giảm 10% - 20% tổn thất các khoản cho vay của NHTM. (ii) Mục đích của hệ thống cảnh báo sớm RRTD tại các NHTM - Đưa ra công cụ hỗ trợ trong việc nhận diện và phát hiện nợ tiềm ẩn rủi ro củaKH vay vốn tại các NHTM: theo những hướng dẫn về hệ thống cảnh báo sớm RRTD của ngân hàng Slovenia 2015 và nhiều tổ chức chuyên nghiệp về QTRRTD như Accenture (2014) hay McKinsey 2012 thì đều có đồng quan điểm rằng: cảnh báo sớm RRTD là một nội dung quan trọng của bước giám sát sau khi cho vay nhằm nhận diện và phát hiện sớm RRTD.
- Đánh giá KH sau khi cấp tín dụng nhằm phân loại KH để có chính sách và biện pháp phù hợp để phòng ngừa và hành động phù hợp để giảm thiểu tổn thất của RRTD: kết qủa nghiên cứu của tác giả Bc. Pavel Mu z cek (2010) và Mahen Priyanka Peiris 2016 đều cho rằng hệ thống cảnh báo sớm RRTD s giúp các NHTM phân loại KH hiệu quả, tạo ra các danh sách KH cần theo dõi để có hành động hiệu quả kịp thời để ngăn ngừa và giảm thiểu RRTD 5 - Ngoài ra theo Yidan Luo (2013) và của M.