Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hạn chế và xử lý nợ xấu ở NHTM. Chương 2: Thực trạng hạn chế và xử lý nợ xấu tại NHNo&PTNT CN Bình Thạnh. Chương 3: Giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu của NHNo&PTNT CN Bình Thạnh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HẠN CHẾ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU Ở NHTM 1.
RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của NH, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho NH. Căn cứ vào khoản 01 Điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro, theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động NH của tổ chức tín dụng, do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”[14] - Đây là loại rủi ro phát sinh trong suốt quá trình cấp tín dụng của NH đối với khách hàng. - Rủi ro tín dụng là loại rủi ro quan trọng nhất và tổn thất lớn nhất trong hoạt động NH, là loại rủi ro chủ yếu của rủi ro ngân hàng (Banking Risk) - Rủi ro tín dụng là loại rủi ro tồn tại khách quan gắn liền với hoạt động NH.
Như vậy, có thể nói rằng rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đó NH là chủ nợ, khách hàng nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Rủi ro này diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán của NH. Đặc điểm của rủi ro tín dụng Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả, nhận biết các đặc điểm của rủi ro tín dụng rất cần thiết và hữu ích. Rủi ro tín dụng có những đặc điểm cơ bản sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 - Rủi ro tín dụng mang tính chất gián tiếp Đặc điểm này xuất phát từ nguyên nhân là trong quan hệ tín dụng, NH chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một thời gian nhất định nên những thiệt hại, thất thoát về vốn xảy ra trước hết là trong quá trình sử dụng vốn của khách hàng.
Biểu hiện rõ ràng của đặc điểm này là trong thực tế, NH thường là biết sau cũng như không đầy đủ và chính xác những khó khăn, thất bại trong hoạt động kinh doanh của khách hàng có thể gây ra rủi ro tín dụng. Từ đặc điểm này, cho thấy muốn phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng đạt hiệu quả cần tập trung nghiên cứu kỹ các thông tin về khách hàng, thiết lập hệ thống thông tin theo dõi dấu hiệu rủi ro, xây dựng và đảm bảo mối quan hệ minh bạch giữa cán bộ tín dụng và khách hàng vay vốn. - Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp Đây là đặc điểm tất yếu của rủi ro tín dụng do đặc trưng NH là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Đặc điểm này cũng là hệ quả của đặc điểm thứ nhất vì mối liên hệ gián tiếp với rủi ro tín dụng khiến sự đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng NH càng thể hiện rõ hơn.
Nhận thức và vận dụng quan điểm này, khi thực hiện phòng ngừa rủi ro cần áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp, không chủ quan với bất cứ một dấu hiệu rủi ro nào để đưa ra biện pháp cho phù hợp. - Rủi ro tín dụng có tính tất yếu vì nó luôn luôn gắn liền với sự vận động của nền kinh tế thị trƣờng Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất kinh doanh không thể biết trước được thị trường sẽ tiêu thụ sản phẩm của họ với số lượng là bao nhiêu và giá cả như thế nào, vì vậy chỉ khi họ sản xuất xong và đưa sản phẩm vào thị trường tiêu thụ họ mới biết là thành công hay thất bại. Nếu thành công họ sẽ trả nợ cho NH đúng hạn, nếu thất bại việc trả nợ sẽ khó khăn và gây rủi ro cho NH cho vay. Do đó NH cần chủ động có các biện pháp thích hợp xử lý vấn đề thông tin thị trường , dự đoán tình hình sản xuất kinh doanh, cũng như khả năng tài chính của khách hàng để đối phó với rủi ro.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại rủi ro tín dụng Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, rủi ro tín dụng phân chia thành các loại sau: 1. Rủi ro giao dịch [6] Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.
Rủi ro giao dịch là loại hình rủi ro tín dụng phát sinh trong quá trình giao dịch tín dụng giữa NH và khách hàng. Rủi ro giao dịch là loại rủi ro mang nặng tính chủ quan của bên cho vay trong quá trình tác nghiệp, bao gồm: - Rủi ro lựa chọn trong quá trình đánh giá, phân tích, lựa chọn khi tác nghiệp chưa tốt, như: phân tích, đánh giá khách hàng thiếu bao quát còn nhiều sơ hở; lựa chọn phương án vay vốn của khách hàng còn lỏng lẻo, qua loa; phương án thu nợ thiếu cân nhắc có nhiều sơ hở dẫn đến rủi ro. - Rủi ro đảm bảo là rủi ro các vấn đề liên quan đến đảm bảo món vay như điều khoản tín dụng thiếu chặt chẽ, hình thức đảm bảo và phương pháp xử lý tài sản còn bất cập, giá trị thực của tài sản đảm bảo không đủ cho món vay. - Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
Rủi ro danh mục [6] Rủi ro danh mục là loại hình rủi ro tín dụng phát sinh trong quản lý danh mục cho vay của NH. Rủi ro danh mục là loại rủi ro vừa mang tính chủ quan, lại vừa tác động của các nhân tố khách quan. Rủi ro danh mục bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. - Rủi ro nội tại Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.
Nó xuất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố rủi ro bên trong của mỗi khách hàng vay vốn, ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực hoạt động. - Rủi ro tập trung Rủi ro tập trung là rủi ro phát sinh trong trường hợp NH tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định khi ngành kinh tế hoặc địa phương này gặp rủi ro trong kinh doanh thì ngân hàng khó thu hồi được vốn gốc cho vay; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Chỉ tiêu đo lƣờng rủi ro tín dụng Để đo lường mức độ rủi ro tín dụng có thể sử dụng các chỉ tiêu sau: - Nợ quá hạn là các khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn.
[6] - Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ), nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) được quy định tại điều 6 và điều 7 Quyết định 493/2005. [14] - Các khoản tín dụng có vấn đề là các khoản vay chưa đến hạn, chưa được xếp vào loại nợ quá hạn nhưng trong quá trình theo dõi, NH phát hiện thấy khách hàng có những dấu hiệu không trả được nợ vay.[6] Đây là các chỉ tiêu số tuyệt đối, các chỉ tiêu này càng cao thì mức độ rủi ro tín dụng của NH càng lớn, việc quản trị rủi ro tín dụng của NH là chưa tốt. Các chỉ tiêu số tương đối rất quan trọng trong đo lường rủi ro tín dụng được sử dụng để đánh giá chất lượng tín dụng của NH. - Tỷ số giữa giá trị các khoản nợ quá hạn và/hoặc nợ xấu so với tổng dư nợ.
- Tỷ lệ các khoản nợ đã cơ cấu lại và/hoặc khoản xoá nợ ròng so với tổng dư nợ. - Tỷ số giữa phân bổ dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm so với tổng dư nợ hay so với vốn chủ sở hữu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Tỷ số giữa dự phòng tổn thất tín dụng được trích lập so với tổng dư nợ hay với tổng vốn chủ sở hữu. - Tỷ lệ mất vốn = Tổng số vốn mất đã xoá trong kỳ/Dư nợ bình quân trong kỳ.
- Tỷ lệ tổng dư nợ cho vay/Tổng tài sản 1. Tác động và hậu quả của rủi ro tín dụng ngân hàng 1. Tác động và hậu quả của rủi ro tín dụng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Khi rủi ro tín dụng xảy ra, ngân hàng không thu hồi được vốn đã cấp và lãi vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn. Điều này sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, chi phí của ngân hàng tăng lên so với dự kiến.
[6] Nếu một khoản vay nào đó bị mất khả năng thu hồi, thì ngân hàng phải sử dụng các nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền, đến một chừng mực nào đấy, ngân hàng không có đủ nguồn vốn để trả cho người gửi tiền thì NH sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn đến nguy cơ gặp rủi ro thanh khoản.