CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA NHTM 1. RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng kinh doanh với hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng, thanh toán trung gian qua tài khoản và các dịch vụ tài chính khác. Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Như vậy chúng ta có thể xác định: Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Thanh toán tín dụng chứng từ của NHTM - Khái niệm: Theo UCP 600, Tín dụng chứng từ là một thỏa thuận nhưng không thể hủy bỏ và do đó là một cam kết chắc chắc của ngân hàng phát hành về việc thanh toán cho một xuất trình phù hợp. Như vậy, phương thức TDCT là một sự thỏa thuận, trong đó một Ngân hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng), theo yêu cầu của khách hàng (Người yêu cầu mở TTD), sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (Người hưởng lợi số tiền của TTD) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho Ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định của TTD.
Luan van 8 - Đặc điểm: Phương thức thanh toán TDCT liên quan đến hai quan hệ hợp đồng độc lập. * Hai nguyên tắc cơ bản trong phương thức TDCT - Nguyên tắc độc lập của L/C với hợp đồng thương mại: Thư tín dụng được mở trên co sở hợp đồng mua bán nhưng sau khi mở rồi, thư tín dụng hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán hay bất cứ hợp đồng nào khác làm cơ sở cho thư tín dụng, thậm chí ngay cả thư tín dụng có dẫn chiếu đến các hợp đồng đó. Các bên giao dịch chỉ căn cứ vào chứng từ chứ không căn cứ vào hàng hóa trong phương thức TDCT. - Nguyên tắc tuân thủ chặt chẽ của chứng từ: Ngân hàng chỉ thanh toán nếu chứng từ xuất trình hoàn toàn phù hợp với thư tín dụng.Theo nguyên tắc này ngân hàng sẽ kiểm tra toàn bộ chứng từ người bán xuất trình hết sức kỹ lưỡng, nếu thanh toán không đúng ngân hàng sẽ phải chịu trách nhiệm.Quyền lợi của người bán và người mua trong hoạt động ngoại thương được đảm bảo một cách tương đối trong phương thức TDCT.
- Phân loại: Căn cứ vào tính chất và đặc điểm, L/C được phân loại như sau: - L/C không thể hủy ngang (Irrevocable L/C): Là loại L/C mà sau khi đã mở và người thụ hưởng đã chấp nhận, thì ngân hàng phát hành không được sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ trong thời hạn hiệu lực của L/C, trừ khi có sự thỏa thuận khác của các bên tham gia. Nếu như L/C có thể hủy ngang nói lên khả năng đơn phương hủy bỏ L/C đang còn hiệu lực không cần sự đồng ý của các bên thì L/C không hủy ngang không cho phép bên nào đơn phương hủy bỏ hay sửa đổi. Đây là loại hình đảm bảo quyền lợi của người thụ hưởng nên được sử dụng rất rộng rãi trên thế giới. - L/C không thể hủy ngang có xác nhận (Confirmed Irrevocable LC): Là loại L/C không thể hủy bỏ, được ngân hàng khác xác nhận đảm bảo trả Luan van 9 tiền theo yêu cầu của ngân hàng phát hành, người bán có thể ký phát hối phiếu đòi ti ền ngân hàng xác nhận.
Quyền lợi của người thụ hưởng được đảm bảo chắc chắn vì cả ngân hàng phát hành và xác nhận đều cam kết thanh toán khi bộ chứng từ xuất trình phù hợp với điều kiện, điều khoản của L/C. - L/C không thể hủy ngang không có xác nhận (UnConfirmed Irrevocable L/C): Là loại L/C không thể hủy bỏ, được thông báo qua ngân hàng khác và không có sự cam kết nào về phía ngân hàng phát hành. - L/C không hủy ngang miễn truy đòi (Irrevocable without recourse L/C): Là loại L/C mà sau khi người hưởng lợi đã được trả tiền thì ngân hàng phát hành không có quyền được đòi tiền người hưởng lợi trong bất cứ trường hợp nào. - L/C chuyển nhượng (Transferable L/C): là L/C không hủy ngang, trong đó người hưởng lợi thứ nhất chuyển nhượng một phần hay toàn bộ nghĩa vụ thực hiện L/C cũng như quyền đòi tiền mà mình có được cho những người hưởng lợi thứ hai.
- L/C giáp lưng (Back to back L/C): Là loại L/C mà sau khi nhận được L/C do người mở mở cho mình, nhà xuất khẩu căn cứ vào nội dung L/C này và dùng đúng L/C này để thế chấp mở một L/C khác cho người hưởng lợi khác với nội dung gần giống như nội dung ban đầu. L/C giáp lưng là một L/C biệt lập được mở trên cơ sở của L/C gốc còn gọi là L/C thứ hai trên cơ sở L/C thứ nhất. L/C giáp lưng cũng được dùng trong mua bán trung gian như L/C chuyển nhượng. Điều khác nhau giữa L/C giáp lưng và L/C chuyển nhượng là ngân hàng phát hành L/C giáp lưng hoàn toàn chịu trách nhiệm thanh toán bộ chứng từ hợp lệ theo L/C mà mình mở không ràng buộc bởi L/C gốc.
- L/C tuần hoàn (Revolving L/C): Là L/C không thể hủy ngang mà sau khi đã sử dụng hết giá trị của nó hay đã hết hạn hiệu lực thì nó lại có giá trị như cũ và tiếp tục được sử dụng một cách tuần hoàn trong một thời gian nhất Luan van 10 định cho đến khi tổng giá trị hợp đồng các bên được thực hiện. L/C tuần hoàn có 2 loại: + Tuần hoàn có tích lũy: Số tiền đã sử dụng có thể được thêm vào cho lần giao hàng kế tiếp. + Tuần hoàn không tích lũy: Những khoản tiền từng phần không được sử dụng sau khi đã hết hạn hiệu lực. - L/C dự phòng (Standby L/C): Là loại L/C được mở ra để bảo vệ quyền lợi của nhà nhập khẩu trong trường hợp nhà xuất khẩu đã nhận được L/C , tiền đặt cọc hoặc tiền ứng trước, nhưng lại không có khả năng giao hàng hoặc không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng như đã quy định trong L/C, đòi hỏi ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu phát hành một L/C trong đó cam kết với nhà nhập khẩu sẽ hoàn trả lại số tiền đặt cọc, tiền ứng trước và chi phí mở L/C cho nhà nhập khẩu.Trong L/C dự phòng, ngân hàng mở ghi rõ L/C này chỉ có giá trị thực hiện khi có sự vi phạm nghĩa vụ của người xin mở L/C, ngược lại nếu không có sự vi phạm thì L/C không được thực hiện.
L/C dự phòng được xem là phương tiện thanh toán thứ yếu, chỉ là đảm bảo cho người thụ hưởng L/C trong trường hợp nghĩa vụ không được thực hiện. Do đó, L/C dự phòng được sử dụng như một hình thức bảo lãnh trong phạm vi rất rộng bao gồm các hoạt động thương mại, tài chính. - L/C đối ứng (Reciprocal L/C): Là loại L/C không thể hủy ngang, chỉ bắt đầu có hiệu lực khi L/C kia đối ứng với nó được mở ra. Trong L/C ban đầu thường phải ghi “L/C này chỉ có giá trị khi người hưởng lợi đã mở lại một L/C đối ứng với nó để cho người mở L/C này hưởng” và L/C đối ứng phải ghi “ L/C này đối ứng với L/C số.tại ngân hàng.” và thông báo cho người hưởng lợi biết.
Đặc điểm nổi bật của L/C này là điều khoản thanh toán. L/C này được sử dụng trong giao dịch hàng đổi hàng và gia công hàng xuất khẩu, khi cả hai bên đều là người mua người bán của nhau. Luan van 11 - L/C điều khoản đỏ (Red Clause L/C): Là loại L/C mà ngân hàng phát hành cho phép ngân hàng thông báo ứng trước cho người thụ hưởng để mua hàng hóa, nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng hóa theo đúng L/C đã mở. Khoản ứng trước này sẽ được khấu trừ vào tiền thanh toán bộ chứng từ.
Căn cứ vào thời điểm thanh toán L/C được phân loại như sau: - L/C trả chậm (Acceptance/Deffered Payment L/C): Là loại L/C không thể hủy ngang, trong đó ngân hàng phát hành hay ngân hàng xác nhận L/C cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán toàn bộ số tiền của L/C tại một hay những thời điểm xác định trong tương lai, những thời điểm này được xác định cụ thể trong L/C. - L/C trả ngay (At sight Payment L/C): Người thụ hưởng sẽ nhận được khoản thanh toán ngay khi họ xuất trình chứng từ phù hợp với điều khoản, điều kiện của L/C. Các chủ thể tham gia vào quá trình thanh toán TDCT - Người yêu cầu mở L/C là người nhập khẩu hoặc là Người nhập khẩu ủy thác cho một người khác. - Ngân hàng phát hành L/C là Ngân hàng của Người nhập khẩu, nó cấp tín dụng cho Người nhập khẩu.
- Người hưởng lợi L/C là Người xuất khẩu hay bất cứ người nào khác mà Người hưởng lợi chỉ định. - Ngân hàng thông báo L/C là ngân hàng đại lý của ngân hàng phát hành ở nước Người hưởng lợi. - Ngân hàng xác nhận L/C là ngân hàng thứ ba theo yêu cầu của ngân hàng phát hành L/c đứng ra cùng cam kết trả tiền cho người hưởng lợi L/C. - Ngân hàng được chỉ định trả tiền L/C là một ngân hàng khác do Ngân hàng phát hành L/C ủy quyền trả tiền.
- Ngân hàng chiết khấu L/C là ngân hàng kiểm tra chứng từ nếu phù Luan van 12 hợp với điều kiện và điều khoản của L/C thì chiết khấu trả tiền ngay cho người hưởng lợi. Rủi ro trong thanh toán TDCT của NHTM a. Khái niệm Là một trong những lĩnh vực kinh doanh của NHTM,TTQT ra đời và phát triển không ngừng như một tất yếu khách quan. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động của mình, TTQT không chỉ đơn thuần mang lại những lợi ích kinh tế mà còn phát sinh những nguy cơ có thể gây ra rủi ro, tổn thất trực tiếp cho đất nước, cho ngân hàng và cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.
Rủi ro trong hoạt động TTQT của NHTM là sự cố xảy ra ngoài ý muốn trong quá trình tiến hành hoạt động TTQT và ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của NHTM.