mở đầu cho sự du nhập của thẻ thanh toán vào VN. Sự liên kết này chủ yếu là nhằm phục vụ cho lượng khách du lịch quốc tế đang đến VN ngày càng nhiều. Đến năm 2006 – 2007, thị trường thẻ trở lên sôi động vì Việt Nam đã bước vào sân chơi rộng hơn là WTO, thị trường tài chính Việt Nam càng cạnh tranh quyết liệt hơn khi có thêm nhiều ngân hàng nước ngoài đầu tư vào đây Luan van 10 và dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ATM là một loại “vũ khí” đắc lực để ngân hàng thâm nhập thị trường. Hàng loạt sản phẩm thẻ thanh toán ra đời, mở ra một cuộc “so tài” phát hành thẻ giữa các ngân hàng trong nước.
Đây là phương tiện thanh toán năng động nhắm vào giới doanh nhân. Do thẻ ngày càng được sử dụng rộng rãi nên trong những năm gần đây, thị trường thẻ Việt Nam đã và đang dần dần thâm nhập sâu vào đời sống dân cư, được sử dụng rất nhiều trong các hoạt động xã hội. Đây được xem như là những dấu hiệu đáng mừng, góp phần to lớn vào sự phát triển của thị trường thẻ trong tương lai. Khái niệm thẻ thanh toán Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, do các ngân hàng, các định chế tài chính hoặc các công ty phát hành cho các khách hàng của mình (được gọi là chủ thẻ) mà người chủ thẻ có thể sử dụng để thanh toán cho các giao dịch về hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt tại các ngân hàng, các đại lý ngân hàng hoặc các máy rút tiền tự động (Máy ATM).
Ngoài ra, NHNN Việt Nam cũng đưa ra khái niệm về thẻ ngân hàng được quy định tại “Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng” được ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007. Theo đó, NHNN quy định: Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận. Đặc điểm của thẻ thanh toán Từ khi ra đời đến nay thẻ ngân hàng đã có nhiều sự thay đổi về kiểu dáng, cấu tạo cũng như đa dạng các tiện ích của nó nhưng hầu hết các loại thẻ đều có hình chữ nhật, bốn góc tròn, được làm bằng nhựa ABC hoặc PC, cấu tạo bởi ba lớp được ép thường với kỹ thuật cao và có kích thước chuẩn là 85mm x 54mm x 0,76mm và gồm 2 mặt: Luan van 11 - Mặt trước thường bao gồm các yếu tố cơ bản như: tên và biểu tượng của NHPH thẻ, tên chủ thẻ, thời gian hiệu lực của thẻ, số thẻ, bộ nhớ điện tử. Ngoài ra còn có thể có những yếu tố khác như đặc điểm qui định về tính năng an toàn của thẻ, hình chủ thẻ,… - Mặt sau của thẻ gồm các yếu tố: dãy băng từ, băng chữ ký của chủ thẻ hoặc có thêm các lưu ý trong việc dùng thẻ, tên, địa chỉ của ngân hàng phát hành.
Khái niệm, đặc điểm của dịch vụ thẻ Các NHTM khi tham gia hoạt động kinh doanh thẻ đều có những chính sách đầu tư, phát triển mạnh các dịch vụ thẻ kèm theo và đây là một trong những nguồn thu phí dịch vụ lớn, mang lại lợi nhuận cao cho các Ngân hàng thương mại. Mỗi NHTM đều có những chính sách phát triển các dịch vụ thẻ riêng, tùy theo quy mô và phạm vi hoạt động của từng ngân hàng. Dịch vụ thẻ muốn phát triển tốt, đáp ứng đầy đủ nhu cầu khách hàng luôn đòi hỏi phải đầu tư công nghệ hiện đại, hoạt động thông suốt và đảm bảo an toàn cho khách hàng sử dụng thẻ và cả chính Ngân hàng. Tuy nhiên, dịch vụ thẻ của một ngân hàng nhìn chung đều có đầy đủ các loại dịch vụ thẻ sau đây: - Tài khoản thẻ: là tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ mở tại Ngân hàng phát hành.
Tài khoản thẻ được mở ngay khi khách hàng đăng ký sử dụng thẻ tại Ngân hàng, có thể thực hiện được tất cả các chức năng cơ bản của một tài khoản thanh toán thông thường như: rút tiền từ tài khoản, nộp tiền vào tài khoản, chuyển khoản sang một tài khoản khác trong cùng ngân hàng hoặc khác ngân hàng, nhận lãi tiền gửi. - Nộp tiền vào tài khoản: là việc khách hàng nộp một khoản tiền vào tài khoản thẻ bằng cách nộp tiền mặt, séc, chuyển tiền bằng thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng hoặc trích từ tài khoản tiền gửi thanh toán thông qua tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ, đại lý phát hành thẻ hoặc ĐVCNT. Luan van 12 - Rút tiền: là việc rút một khoản tiền mặt từ thẻ thanh toán thông qua các máy rút tiền tự động (ATM), tại quầy giao dịch ngân hàng hoặc các điểm thanh toán thẻ. - Nhận chuyển khoản: Với tài khoản thẻ được cung cấp khi phát hành thẻ, các chủ thẻ có thể nhận được tiền chuyển vào tài khoản thẻ của mình.
Các ngân hàng ngày nay phát triển rất nhiều hình thức nhận tiền cho các tài khoản thẻ như: nhận tiền chuyển khoản từ các ngân hàng trong cùng hệ thống hoặc khác hệ thống hoặc từ nước ngoài, nhận tiền kiều hối hay nhận lương từ chính công ty của mình. Hiện nay hình thức nhận lương qua tài khoản ở Việt Nam ngày càng trở nên phổ biến và được nhà nước khuyến khích. - Thanh toán qua thẻ: là việc chuyển một khoản tiền từ tài khoản thẻ qua các tài khoản khác tại nhiều ngân hàng khác nhau để thanh toán các giao dịch kinh doanh, các hóa đơn hàng hóa, dịch vụ. Ngoài ra dịch vụ thanh toán qua thẻ còn được các ngân hàng thương mại phát triển dịch vụ thanh toán trực tuyến qua internet, thanh toán tại các máy ATM cho các hóa đơn hàng hóa, dịch vụ đã sử dụng như thanh toán các hóa đơn tiền điện, nước, điện thoại, hóa đơn bảo hiểm hay mua thẻ trả trước…Việc thanh toán hóa đơn qua thẻ có thể được thực hiện chuyển khoản trực tiếp với các tài khoản mở tại ngân hàng hoặc thông qua các trung gian thanh toán là các cổng thanh toán trực tuyến hoặc các ví điện tử… - Mã số định danh cá nhân (Personal Identification Number – viết tắt là PIN): là mã số mật của cá nhân được tổ chức phát hành cung cấp cho chủ thẻ, được sử dụng trong các giao dịch thẻ để xác thực chủ thẻ.
Đây là 1 công cụ bảo vệ được thiết kế để ngăn ngừa việc sử dụng thẻ trái phép. Mã PIN thường là các chữ số và người dùng có thể thay đổi được. Mã số này do chủ thẻ chịu trách nhiệm bảo mật. Trong giao dịch điện tử, số PIN được coi là chữ ký của chủ thẻ.
Luan van 13 - Huy động vốn: là dòng tiền gửi vào ngân hàng thông qua các tài khoản thẻ, gồm số lượng tiền gửi của khách hàng để thanh toán thẻ, số lượng tiền ký quỹ duy trì tài khoản, số tiền khách hàng nộp vào thẻ nhưng chưa sử dụng đến. Các tài khoản này sẽ giúp cho ngân hàng có được một nguồn vốn huy động đáng kể với lãi suất thấp (lãi suất tiền gửi không kỳ hạn) để có thể phục vụ cho các mục đích kinh doanh khác nhằm tối đa hóa lợi nhuận. - Gửi tiết kiệm tại ATM: cũng giống như hình thức gửi tiết kiệm thông thường nhưng với hình thức gửi tiết kiệm tại ATM chủ thẻ không cần phải mang tiền mặt đến ngân hàng mà chỉ thực hiện giao dịch gửi tiết kiệm tại máy ATM hoặc qua internet và có thể lựa chọn gửi nhiều kỳ hạn khác nhau. Phân loại thẻ thanh toán Hiện nay trên thế giới cũng như tại Việt Nam, có rất nhiều loại thẻ khác nhau, với những đặc điểm cũng như công dụng rất đa dạng và phong phú.
Từ đó thẻ có thể phân loại theo một số tiêu thức sau: a. Xét theo tiêu thức thanh toán của thẻ: có 2 loại thẻ - Thẻ tín dụng (credit card): Là loại thẻ cho phép chủ thẻ được thực hiện giao dịch trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ. Chủ thẻ phải thanh toán ít nhất mức trả nợ tối thiểu khi đến hạn quy định và sẽ phải trả lãi cho số tiền còn nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trước. Thẻ tín dụng được xem như một công cụ cho vay tiêu dùng của tổ chức phát hành cấp cho chủ thẻ.
- Thẻ ghi nợ (debit card): Là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch trong phạm vi số tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ mở tại một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc số dư hiện hữu trên tài khoản chủ thẻ. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho chủ thẻ trong giao dịch, tổ chức phát hành có thể cho phép chủ thẻ chi tiêu hoặc rút tiền vượt quá số dư trong một khoảng thời gian nhất Luan van 14 định, tùy thuộc vào mối quan hệ khách hàng, hình thức này gọi là thấu chi. Xét theo công nghệ sản xuất: có 3 loại thẻ - Thẻ khắc chữ nổi (embossed card): Là loại thẻ sơ khai ban đầu, các thông tin cơ bản được khắc nổi trên thẻ, loại này nhanh chóng bị thay thế bởi tính bảo mật kém và dễ làm giả.
- Thẻ băng từ (magnetic stripe): Là loại thẻ được phủ một băng từ với 2 hoặc 3 dãy để ghi những thông tin cần thiết đã được mã hóa, các thông tin này thường là thông tin cố định về chủ thẻ và số liệu kết nối. Khi trình độ công nghệ phát triển cao, nó bộc lộ những điểm yếu do tính bảo mật không an toàn, dễ bị kẻ gian lợi dụng đọc thông tin và làm giả thẻ, hoặc tạo các giao dịch giả gây thiệt hại cho chủ thẻ và ngân hàng. - Thẻ thông minh (smart card - thẻ chip): Là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật vi xử lý nhờ gắn một chíp điện tử theo nguyên tắc xử lý như một máy tính nhỏ. Đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, nó khắc phục nhiều nhược điểm của thẻ từ, đảm bảo tính an toàn cao.
Xét theo phạm vi lãnh thổ: có 2 loại thẻ - Thẻ nội địa: là loại thẻ chỉ sử dụng trong phạm vi một quốc gia và đồng tiền giao dịch là đồng bản tệ. Thông thường đó là thẻ ghi nợ của các ngân hàng thương mại, được phát hành, sử dụng tại hệ thống máy ATM và mạng lưới các ĐVCNT trong nước. - Thẻ quốc tế: là loại thẻ có thể được sử dụng trong nước và quốc tế.