CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NHTM 1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NHTM 1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp Theo điều 4 luật doanh nghiệp 2005/QH 11 do Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 29/11/2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự, hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế và chịu sự quản lý của Nhà nước bởi Luật doanh nghiệp và các quy định của pháp luật.
Trong giao dịch với ngân hàng, doanh nghiệp có đặc điểm sau: Thứ nhất: Trong NH, KHDN là đối tượng KH thường chiếm tỷ trọng nhỏ về mặt số lượng nhưng chiếm tỷ trọng lớn về mặt doanh số giao dịch. Do vậy, giao dịch với KHDN, NH có thể tiết kiệm được chi phí giao dịch dựa vào lợi thế về quy mô giao dịch. Cụ thể khi vay vốn KH doanh nghiệp thường vay với những khoản vay có giá trị lớn, quy mô của từng hợp đồng vay lớn do đó NH tiết kiệm được chi phí khi tổ chức cho vay. Thứ hai: Thông tin tài chính của KH doanh nghiệp rõ ràng và được thể hiện qua báo cáo tài chính.
Theo quy định của Pháp Luật hiện hành về tổ chức và DN ở Việt Nam hiện có nhiều văn bản khác nhau trong đó có thể kể đến: Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Hợp tác xã, Luật Các tổ chức tín dụng… Luan van 7 Ngoài các văn bản nêu trên thì DN được thành lập và hoạt động còn phải tuân theo các quy định của các văn bản hướng dẫn, và các văn bản pháp luật chuyên ngành đối với từng ngành nghề kinh doanh cụ thể đối với từng loại hình DN. Theo đó: DN được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại hình DN có đặc trưng riêng của nó và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của DN. Chúng ta có thể phân ra các loại hình DN sau: Doanh nghiệp tư nhân; Công ty hợp danh; Công ty TNHH có hai thành viên trở lên; Công ty TNHH một thành viên; Công ty cổ phần; Công ty nhà nước; Hợp tác xã; Doanh nghiệp liên doanh; Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Khái niệm, đặc điểm cho vay doanh nghiệp a. Khái niệm cho vay doanh nghiệp Khái niệm về tín dụng: Theo điều 4 Luật TCTD năm 2010 “Cấp tín dụng là việc thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Vậy cho vay DN là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Tổ chức tín dụng giao cho KH DN sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm của cho vay doanh nghiệp Số lượng KH DN trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ít so với tổng số KH trong tổ chức tín dụng.
Quy mô dư nợ trên KH trên KH lớn, nhu cầu vốn vay rất đa dạng về mặt quy mô thường được thể hiện ở kỳ hạn vay vốn bao gồm cả cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Các hình thức vay vốn cũng khác nhau như: cho vay vốn lưu động, các Luan van 8 công trình xây dựng, kinh doanh chứng khoán, cho vay kinh doanh kỳ hạn, cho vay theo dự án Thông tin KH doanh nghiệp đầy đủ hơn thuận lợi cho ngân hàng và thường được DN cung cấp qua báo cáo tài chính và từ nguồn thông tin CIC. Ngân hàng dễ dàng hơn trong việc kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay, thông qua việc sử dụng vốn vay KH cung cấp các loại hoá đơn chứng từ có liên quan và dòng tiền được kiểm tra dễ dàng hơn. Khả năng rủi ro tín dụng cao đặc biệt đối với cho vay doanh nghiệp có quy mô lớn bởi khi NH đầu tư vốn cho những dự án / phương án lớn nên khi rủi ro xảy ra dẫn đến thất thoát nguồn vốn lớn.
Thông qua cho vay DN ngân hàng có điều kiện tiếp cận và cung cấp các dịch vụ phụ khác ngoài cho vay như: tiền gửi, thanh toán và một số nghiệp vụ tài chính khác cho chính DN và cho cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp. Chi phí cho vay DN cao vì phải trích các chi phí thẩm định, kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn, chi phí trích lập DPXLRR lớn. Khái niệm rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp của NHTM Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN: “ Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do KH không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. RRTD là thiệt hại về kinh tế của NH do một KH hoặc một nhóm KH không hoàn trả được nợ vay của NH.
RRTD là khoản lỗ tiềm tàng vốn khi NH cấp tín dụng cho một KH hay nói cách khác RRTD là khả năng xảy ra do KH không thực hiện trả nợ theo các điều khoản đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Luan van 9 RRTD là rủi ro tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán. RRTD xảy ra khi xuất hiện các biến cố không thể lường trước khiến KH không thực hiện được các cam kết đã thoả thuận với NH. Mặt khác, RRTD và lợi nhuận tín dụng kỳ vọng của NH là hai đại lượng đồng biến với nhau trong phạm vi nhất định (lợi nhuận kỳ vọng cao thì rủi ro tiềm ẩn càng lớn và ngược lại) RRTD trong cho vay DN là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động NH của TCTD do DN không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết trong HĐTD.
Đặc điểm và phân loại rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp của NHTM a. Đặc điểm rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp của NHTM Nghiên cứu những đặc điểm cơ bản của rủi ro trong hoạt động cho vay có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xác định, đo lường, quản lý và kiểm soát nó. Rủi ro trong cho vay DN có những đặc điểm sau: Rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp mang tính tất yếu Tính tất yếu của RRTD tồn tại và luôn gắn liền với hoạt động tín dụng của NHTM. Thông tin bất cân xứng giữa NH và KH là nguyên nhân khiến các nhà kinh tế cũng như các NH cho rằng kinh doanh NH thực chất là quản lý rủi ro ở mức độ phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng.
Do không thể có được thông tin cân xứng về sử dụng nguồn vốn vay cho HĐKD của KH vay, nên bất cứ một khoản cho vay nào cũng tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro đối với NHTM như thu hồi vốn không đúng hạn hoặc không đủ…Trong trường hợp này NH cần chủ động có biện pháp thích hợp xử lý thông tin không cân xứng Luan van 10 để đối phó với rủi ro, đo lường rủi ro cũng như để xác định giá khoản vay cho phù hợp. [9] Thông thường doanh nghiệp vay với số tiền lớn, chính vì vậy khi phát sinh nợ quá hạn sẽ kéo theo tỉ lệ nợ quá hạn rất lớn và nếu tiếp tục dẫn đến nợ xấu cao làm ảnh hưởng mạnh đến HĐKD của NH. Rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp mang tính gián tiếp Trong quan hệ tín dụng thì NH chuyển giao quyền sử dụng vốn cho KH trong một thời gian nhất định do NH không kiểm tra, kiểm soát sau khi cho vay dẫn đến KH sử dụng vốn sai mục đích theo phương án/ dự án vay vốn đã lập từ ban đầu vì thế những thiệt hại cũng như thất thoát về vốn xảy ra trước hết là từ việc sử dụng vốn của KH. Trong trường hợp này NH thường phát hiện sau khi giải ngân hoặc không nhận biết đầy đủ chính xác những khó khăn, thất bại trong HĐKD của KH.
Để khắc phục rủi ro này thì NH cần tập trung nghiên cứu thông tin về KH, thiết lập hệ thống thông tin theo dõi dấu hiệu rủi ro, kiểm soát việc sử dụng vốn vay của KH nhằm kịp thời ngăn chặn khi KH sử dụng vốn sai mục đích. Rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp có tính chất đa dạng và phức tạp Đặc điểm RRTD được biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của nó. Đây là đặc điểm tất yếu của RRTD do đặc trưng NH là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Đặc điểm này cũng là hệ quả của đặc điểm “Rủi ro tín dụng mang tính chất gián tiếp”, vì lĩnh vực ngành nghề, không gian trải rộng, nguyên nhân mối liên hệ gián tiếp với RRTD khiến sự đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng đối với NH càng thể hiện rõ ràng.
DN cung cấp BCTC sai sự thật như: lợi nhuận đạt được thấp nhằm tránh thuế thu nhập DN, các số liệu trong bảng cân đối kế toán không phù hợp. Mặt khác, BCTC chưa được kiểm toán do đó số liệu chưa được chính xác nhằm qua mặt NH để được vay vốn, nên trong quá trình phân tích Luan van 11 và thẩm định cho vay cũng không đúng theo thực tế đối với thực trạng DN, điều này đưa đến quyết định sai lầm trong quá trình xét duyệt cho vay. Để Hạn chế RRTD này cần áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp khác nhau và không chủ quan với bất kỳ dấu hiệu rủi ro nào. Ngoài ra, trong quá trình xử lý RRTD cần xuất phát từ nguyên nhân, bản chất và hậu quả của rủi ro để đưa ra biện pháp phù hợp.
Trong cho vay DN có những đặc điểm rủi ro như các đối tượng khác nó cũng bao gồm các tính tất yếu, tính gián tiếp, tính đa dạng và phức tạp.