CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề chung về rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng: 1. Lãi suất và rủi ro lãi suất: 1. Lãi suất: Lãi suất là giá cả của tín dụng, là giá cả mà người cho vay đặt ra để đánh đổi lấy quyền sử dụng vốn cho vay của họ.
Hay lãi suất là tỷ lệ giữa mức phí phải trả trên giá trị khoản vay. Có nhiều loại lãi suất khác nhau nhưng trong phạm vi bài nghiên cứu chỉ đề cập đến hai loại lãi suất đó là lãi suất huy động và lãi suất cho vay: Lãi suất huy động: đây là lãi suất được áp dụng để tính lãi tiền gửi cho khách hàng. Đây là cái giá cho việc huy động vốn từ người gửi tiền. Lãi suất này cao hay thấp phụ thuộc vào thời hạn gửi tiền, khối lượng tiền gửi cũng như những chính sách của NHNN.
Lãi suất cho vay: là mức lãi suất được áp dụng để tính lãi tiền vay mà khách hàng phải trả cho ngân hàng khi đi vay vốn. Lãi suất cho vay cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: thời hạn vay, đối tượng khách hàng, mục đích vay vốn, khối lượng tiền vay, mức độ rủi ro, quy định của NHNN. Chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động chính là nguồn thu nhập chính của các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng ở Việt Nam. Rủi ro lãi suất: Theo Timothy W.Koch (Bank Management 1995-University of South Carolina): “rủi ro lãi suất là sự thay đổi tiềm tàng về thu nhập lãi ròng và giá trị thị trường của vốn ngân hàng xuất phát từ sự thay đổi của mức lãi suất”.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Theo Thomas P.Fitch (Dictionary of Banking Terms 1997-Barron’s Eductional Series Inc) thì “rủi ro lãi suất là rủi ro khi thay đổi lãi suất thị trường sẽ dẫn đến tài sản sinh lời giảm giá trị” Như vậy, rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất đến nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng. Ngân hàng là một trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu và thường xuyên của nó là huy động vốn từ các tầng lớp dân cư và các tổ chức khác, sau đó sử dụng nguồn vốn huy động được để cấp tín dụng thu lợi nhuận. Trên nguyên tắc cơ bản của tín dụng là có vay có trả (bao gồm cả gốc và lãi) đúng hạn, ngân hàng phải trả lãi tiền gửi cho khách hàng gửi tiền và tiến hành thu nợ lãi từ khách hàng vay vốn. Chênh lệch giữa lãi cho vay và lãi tiền gửi chính là nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng.
Phân loại rủi ro lãi suất: 1. Rủi ro tái định giá (Repricing risk): Mức độ nhạy cảm của tài sản và nợ đối với lãi suất phụ thuộc vào kỳ hạn cho tới ngày định giá gần nhất. Khi đó, lãi suất được thay đổi lại trong thời gian kỳ hạn của hợp đồng hay thỏa thuận tiền gửi. Khi lãi suất thị trường tăng làm giảm giá trị của hầu hết các trái phiếu và các khoản cho vay lãi suất cố định mà ngân hàng nắm giữ.
Thời hạn tái định giá là khoảng thời gian còn lại tính đến ngày lãi suất được thay đổi lại. Như vậy, thời hạn tái định giá là khái niệm hoàn toàn khác so với thời gian đáo hạn do thời gian đáo hạn là thời điểm hợp đồng hay thỏa thuận tiền gửi kết thúc. Trong khoảng thời gian đáo hạn có thể có nhiều thời hạn tái định giá. Bởi vậy, với những tài sản và nợ có lãi suất thả nổi, thời gian hợp lý nhất để đánh giá rủi ro lãi suất là thời hạn tái định giá, chứ không phải thời gian còn lại đến khi đáo hạn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Rủi ro tái đầu tư (re-investment risk): Xuất hiện khi lãi suất thị trường hạ khiến ngân hàng phải chấp nhận đầu tư các nguồn vốn của mình vào những tài sản có mức sinh lợi thấp hơn. Một trong những nội dung quan trọng trong quản lý tài sản-nợ là tìm ra phương cách giải quyết hiệu quả nhất đối với hai loại rủi ro trên. Rủi ro mất cân đối (Mismatch or Gap risk): Sự mất cân đối giữa ngày đáo hạn theo hợp đồng của tài sản với lãi suất cố định và công nợ dùng để tài trợ các tài sản đó sẽ tạo ra rủi ro lãi suất.
Ví dụ, một tài sản với thời gian đáo hạn là 4 năm được tài trợ bởi nợ đáo hạn trong 3 năm sẽ tạo ra rủi ro lãi suất trong 1 năm còn lại khi cần phải tìm lại nguồn tài trợ thay thế. Rủi ro cơ bản (Basic risk): Rủi ro này phát sinh khi lãi suất của các tài sản và nợ khác nhau có biểu hiện khác nhau cho dù chúng có cùng thời hạn tái định giá. Ví dụ, ngân hàng huy động được một khoản tiền gửi từ một khách hàng. Sau đó, ngân hàng này gửi lại số tiền trên vào tài khoản của mình tại ngân hàng nước ngoài nhằm hưởng chênh lệch lãi suất.
Tuy nhiên, ngân hàng có thể sẽ phải chịu rủi ro khi biên độ chênh lệch lãi suất của hai khoản tiền gửi đó thay đổi không đoán trước được. Rủi ro quyền lựa chọn (Option Risk): Là loại rủi ro khi khách hàng có thể sử dụng quyền để tham gia hay chấm dứt hợp đồng với lãi suất cố định. Điều này có thể do việc thực hiện quyền lựa chọn trong hợp đồng hay do khách hành chấm dứt hợp đồng do lãi suất ưu đãi hơn trên thị trường. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Các nguyên nhân gây ra rủi ro lãi suất: 1. Sự không phù hợp (sự không cân xứng) về kỳ hạn giữa tài sản (tài sản có) và nguồn vốn (tài sản nợ): Do sự đa dạng về nhu cầu của khách hàng gửi tiền và vay tiền, khách hàng có những nhu cầu khác nhau khi gửi tiền hoặc vay tiền dẫn đến sự đa dạng về kỳ hạn của các khoản vốn huy động và các khoản cho vay. Ngân hàng thường không quy định khách hàng bắt buộc phải thực hiện cam kết trong kỳ hạn. Chẳng hạn, các khách hàng gửi tiền với thời hạn ban đầu là 1 năm nhưng có thể rút sớm trước thời hạn mà không bị ngân hàng cấm, các khách hàng vay tiền cũng có thể trả nợ trước hạn, và ngược lại có trường hợp được ngân hàng cho gia hạn nợ.
Tần số xuất hiện sự vi phạm thỏa thuận về thời hạn của các khách hàng gửi tiền và vay tiền thường không tương xứng với nhau và thực tế này càng làm tăng khả năng mất cân xứng về kỳ hạn của các khoản cho vay và các khoản vốn huy động của ngân hàng. Có 2 trường hợp với kỳ hạn của tài sản và nợ của ngân hàng: Trường hợp 1: Kỳ hạn của tài sản lớn hơn kỳ hạn của nợ: Ngân hàng huy động vốn ngắn hạn để cho vay, đầu tư dài hạn. Rủi ro sẽ thành hiện thực nếu lãi suất huy động trong những năm tiếp theo tăng lên trong khi lãi suất cho vay và đầu tư dài hạn không đổi dẫn đến lợi nhuận ngân hàng giảm. Trường hợp 2: Kỳ hạn của tài sản nhỏ hơn kỳ hạn của nợ: Ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn dài để cho vay, đầu tư với kỳ hạn ngắn.
Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huy động trong những năm tiếp theo không đổi trong khi lãi suất cho vay và đầu tư giảm xuống. Rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện vì chi phí lãi không đổi trong khi thu nhập lãi giảm nên dẫn đến lợi nhuận ngân hàng giảm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Chênh lệch giữa tài sản có và tài sản nợ được thể hiện qua khe hở nhạy cảm lãi suất (interest rate gap) là nhân tố phản ánh quy mô của rủi ro lãi suất. Các nhà quản lý ngân hàng đã dùng khe hở nhạy cảm lãi suất như là tiêu chí đo mức thay đổi thu nhập của ngân hàng: Khe hở nhạy cảm lãi suất (R)(GAP=Interest rate sensitive gap)= Tài sản nhạy cảm lãi suất – Nguồn nhạy cảm lãi suất Trong đó: Nguồn nhạy cảm lãi suất là những khoản vốn mà lãi suất được điều chỉnh theo điều kiện thị trường bao gồm: tiền gửi hoạt kỳ của khách hàng, tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm có kỳ hạn thời hạn còn lại ngắn, tiền gửi có lãi suất biến đổi… Tài sản nhạy cảm lãi suất là những tài sản sẽ được định giá lại khi thay đổi lãi suất gồm: các khoản cho vay có lãi suất biến đổi, các khoản cho vay ngắn hạn (cho vay thương mại) với thời hạn ngắn, chứng khoán có thời hạn còn lại ngắn (trái phiếu chính phủ, công ty, xí nghiệp…) Như vậy sẽ có 3 trường hợp xảy ra đối với giá trị của khe hở nhạy cảm lãi suất (R ): R < 0: khe hở lãi suất âm: Khi lãi suất trên thị trường giảm thì chênh lệch lãi suất sẽ tăng lên làm gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng và ngược lại.
R = 0: khe hở cân bằng: Khi đó lãi suất trên thị trường tăng hay giảm sẽ không gây ra ảnh hưởng đến thu nhập và lợi nhuận của ngân hàng. R > 0: khe hở lãi suất dương: trường hợp tài sản nhạy cảm lớn hơn nguồn nhạy cảm. Nếu lãi suất trên thị trường tăng sẽ gia tăng lợi nhuận và ngược lại. Như vậy RRLS xuất hiện trong hai trường hợp: thứ nhất R>0 và lãi suất trên thị trường giảm, thứ hai R<0 và lãi suất trên thị trường tăng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tỷ lệ lạm phát dự kiến không phù hợp với tỷ lệ lạm phát thực tế: Tức vốn của ngân hàng không được bảo toàn sau khi cho vay, lãi suất cho vay danh nghĩa = lãi suất thực + Tỷ lệ lạm phát dự kiến Ví dụ: khi dự kiến lãi suất cho vay 8%= 3% (lãi suất thực) + 5% (tỷ lệ lạm phát dự kiến). Nhưng nếu sau khi cho vay tỷ lệ lạm phát thực tế là 8% thì lãi suất thực ngân hàng được hưởng là 0%.