Chương 6 : TIN DUNG QUOC TE VA TIN DUNG THUONG MAI QUOC TE 6. Tin dung quéc té 6. Khai quat vé tin dung quốc tế 6. Bản chất và sw can thiết của tín dụng quốc tẾ Bản chất của tín dụng quốc tế Tín dụng quốc tế (International credit) 1a quan hé vay va cho vay giữa các chủ thể kinh doanh ở các quốc gia khác nhau trên cơ sở cung cầu về vốn theo nguyên tắc hoàn trả vốn và lãi, có kỳ hạn và được đền bù nếu có sự v1 phạm thoả thuận.
Như vậy, tín dụng quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở thoả thuận giữa người cung cấp tín dụng (người cho vay) và người sử dụng tín dụng (người đi vay). Đối tượng của tín dụng quốc tế là vốn tiền tệ, vốn hàng hoá hữu hình và vô hình. Các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng quốc tế là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, các tổ chức tài chính, các chính phủ. Trong quan hệ tín đụng quốc tế, sự đi chuyển quyền sử dụng vốn là xuất phát từ quan hệ cung cầu giữa chủ sở hữu vốn và người có nhu cầu sử dụng vốn.
Vốn tín dụng, thông qua quá trình sử dụng của người được cấp tín dụng sẽ mang lại lợi nhuận nên người sử dụng vốn 109 tín dụng phải trích một phần để trả tiền thuê vốn, biểu hiện ra là lãi tín dụng. Quyền sử dụng vốn tín dụng chỉ được chuyển giao từ người sở hữu tín dụng sang người sử dụng trong thời hạn nhất định. Thời hạn này phụ thuộc vào mục đích sử dụng, khả năng cấp tín dụng và chu kỳ sử dụng tín dụng của người vay tín dụng. Tín dụng quốc tế là quan hệ vay và cho vay nên nếu một bên của thoả thuận vi phạm thì phải bồi thường cho đối tác những thiệt hại do sự vi phạm đó.
Chính vì vậy, quan hệ tín dụng quốc tế phải thể hiện bằng những văn bản pháp lý, biểu hiện ra là hợp đồng tín dụng. Sự cần thiết của tín dụng quốc tế Tín dụng quốc tế gắn với dòng vận động vốn nên nguyên nhân chính là do sự mắt cân bằng giữa cung và cầu về vốn. Tuy nhiên, tín dụng quốc tế cũng xuất hiện do nhiều nguyên nhân khác không do quan hệ cung cầu về vốn. e Thứ nhất, trình độ phát triển không đồng đều về kinh tế giữa các nước trên thế giới đã tạo ra sự không cân bằng về lượng vốn ở các quốc gia và khu vực khác nhau.
Một số quốc gia phát triển, dư thừa về vốn, có khả năng cấp tín dụng. Ngược lại một số quốc gia kém phát triển, có nhu cầu về vốn để phát triển. Với một nền kinh tế thế giới ngày càng tự do hóa thương mại và đầu tư, sự chu chuyển vốn giữa các quốc gia có trình độ phát triển khác nhau này mang lại hiệu quả sử dụng vốn cho cá bên cho vay và bên đi vay. e 7hứ hai, tín dụng quốc tế là phương tiện ở tất cả các cấp quốc gia, ngành và doanh nghiệp.
Các quốc gia sử dụng tín dụng 110 quốc tế như một công cụ hữu hiệu để giành thị trường, áp dat các điều kiện thương mại quốc tế lên các quốc gia khác. Các ngành sử dụng các các khoản tín dụng để đầu tư nhằm giành vị thế trên thị trường, kể cả vị thế độc quyền. Các doanh nghiệp kinh doanh thương mại quốc tế sử dụng các khoản tín dụng và các phương thức tín dụng như những điều kiện cạnh tranh, thu hút khách hàng. e 7hứ ba, tín dụng quốc tế còn là yêu cầu của phân công lao động quốc tế.
Tính chuyên môn hoá của các ngành sản xuất và thương mại ngày càng cao càng cần sự hỗ trợ của các ngành kinh doanh khác trong đó có ngành kinh doanh tiền tệ - cung cấp vốn cho các hoạt động kinh doanh. Sự chuyên môn hoá của những người kinh doanh tiền tệ đã thúc đây sự liên kết kinh tế giữa các quốc gia, khu vực và các chủ thể kinh doanh và đến lượt các liên kết đó trở thành động lực cho thương mại quốc tế. «1; ak tue, tín đụng quốc tế còn xuất phát từ yêu cầu về vốn cho hoạt động thương mại và đầu tư ngày càng cao. Các doanh nghiệp sử dụng vốn tín đụng có thể đạt hiệu quả kinh doanh cao hơn do lợi nhuận tạo ra từ sử dụng vốn tín dụng thường cao hơn lãi phải trả.
Hơn nữa, các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ thường thiếu vốn lưu động nên huy động vốn tín đụng sẽ tạo nên sự hoạt động bình thường để phát triển. e 7Ù năm, các phương thức kinh doanh ngoại hối trên thị trường thế giới đã tạo điều kiện để các trung tâm giao dịch có thé khai thác nguồn vốn tín dụng quốc tế một cách có hiệu quả. Chẳng hạn, khi một thị trường ngoại hối đóng cửa thì ngay lập tức 111 vốn được chuyển sang thị trường khác để tiếp tục hoạt động và như vậy quan hệ tín dụng được hình thành. ® Thứ su, tín dụng quốc tế sẽ tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các doanh nghiệp, các ngành và quốc gia trong điều kiện một nền kinh tế thế giới mở.
Sự hỗ trợ này là cần thiết để cùng tồn tại và phát triển trong sự độc lập và phụ thuộc lẫn nhau. e Thứ bảy, tín dụng quốc tế còn xuất phát từ sự tách biệt phạm vị không gian và thời gian của quá trình sản xuất kinh doanh, thương mại và đầu tư. Sự vận động của các yếu tố đầu vào và đầu ra, quá trình từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm và thu được tiền bao giờ cũng có độ trễ nhất định nên việc chiếm dụng các yếu tố sản xuất kinh doanh dưới dạng tín đụng là một tất yếu. Tóm lại, tín dụng quốc tế là tất yếu xuất phát từ sự phân công lao động quốc tế, sự phát triển không đều giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ.
Tín dụng quốc tế còn do quan hệ cung cầu về vốn, do sự phụ thuộc và hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất kinh doanh và sự khác biệt về không gian và thời gian trong sự vận động của các yếu tố sản xuất. Tín dụng quốc tế còn do sự phát triển không ngừng của các phương thức kinh đoanh trên thị trường thế giới đã tạo môi trường để vốn không ngừng ngơi nghỉ và phát huy hiệu quả cao nhất. Các nguyên tắc của tín dụng quốc tễ Để tín dụng quốc tế vận động bình thường và phát huy hiệu quả đối với phát triển kinh tế và sản xuất kinh doanh cần tuân theo những nguyên tắc nhất định. Đó là những nguyên tắc nhằm quản lý nguồn tín dụng, bảo đảm lợi ích của các bên, giảm thiểu rui ro.
112 Quản lý tập trung: Tất cả các khoản tín dụng, đù là tín dụng nhà nước, tín dụng của các tô chức tín dụng quốc tế hay tín dụng tư nhân đều phải quản lý tập trung. Tuỳ thuộc vào đặc điểm, trình độ phát triển kinh tế khác nhau mà mức độ can thiệp của chính phủ vào việc sử dụng tín dụng có khác nhau. Mục đích của thực hiện nguyên tắc quản lý tập trung là bảo đám sự bình đẳng, cùng có lợi trong quan hệ tín dụng, bảo đảm các khoản tín dụng được sử dụng đúng mục đích. Quản lý tập trung tín dụng quốc tế thể hiện vai trò quản lý và điều tiết kinh tế của chính phủ, chống vay nợ tràn lan, nhất là vay nợ của khu vực tư nhân nhằm tạo nên sự 6n định tài chính và kinh tế.
Bảo đâm lợi ích của các bên: Tín đụng quốc tế là quan hệ vay và cho vay sao cho hai bên đều có lợi nên phải tuân theo nguyên tắc bảo đảm lợi ích cho cá hai bên. Cụ thể là bên cho vay phải cấp tín dụng đầy đủ, đúng thời hạn, thuận lợi nhất cho bên đi vay; Bên vay phải trả nợ đầy đủ, đúng hạn theo cam kết. Các thoả thuận tín dụng phải được thê hiện bằng những văn bản và chứng từ mang tính pháp lý, bất cứ bên nào vi phạm phải bồi thường thiệt hại cho bên kia. Nguyên tắc bảo đảm lợi ích của các bên còn đòi hỏi bên đi vay phải tạo điều kiện để bên cho vay giám sát khoản tín dụng và thu hồi vốn, lãi trong trường hợp cần thiết.
Ngược lại, bên cho vay cũng cần tạo ra điều kiện để bên vay su dung vốn có hiệu quả, tạo ra lợi nhuận lớn nhất. San sẻ và giảm thiểu rúi ro: Tín dụng quốc tế phải đựa trên cơ sở chia sẻ rủi ro cho cả hai bên vay và cho vay. Các nghiệp vụ tín dụng quốc tế có thể làm cho các rủi ro tín dụng rơi vào bên cho vay hay bên đi vay nhưng trong quá trình thỏa thuận, các bên 113 sẽ cố găng điều hòa để san sẻ rủi ro cho đối tác. Hơn nữa, tín dụng quốc tế chỉ đi đến thỏa thuận nếu hai bên vay và cho vay cỗ gắng chia đều rủi ro.
Đồng thời với san sẻ rủi ro, hai bên cũng phải tuân thủ các quy định đê bảo đảm giảm thiểu rủi ro. Cách thức đơn giản nhất là áp dụng tín dụng có bảo đảm. Các hình thức tín dụng quốc tế Tín dụng quốc tế được thực biện dưới nhiều hình thức và giữa các hình thức tín dụng có mối quan hệ chặt chẽ. Mỗi hình thức tín dụng quốc tế có những đặc điểm khác nhau và có thể phân loại theo các tiêu thức sau: 6.
Căn cứ vào dỗi tượng của tín dụng quốc tế Đối tượng tín dụng có thê là vốn bằng tiền hay vốn tài sản, có thể là hữu hình hoặc vô hình nên có thể phân chia thành các loại sau: Tín dụng hàng hóa: là tín dụng biểu hiện ra thành hàng hóa mà một bên ứng trước cho bên kia. Trong hình thức tín dụng này, sự vận động của tín dung gan liền với sự vận động của hàng hóa, quá trình tín dụng song song với quá trình mua bán hàng hóa. Tín dụng hàng hóa thường không có sự tham gia của các tổ chức tài chính. | | Tín dụng tiền tệ: là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tô chức tín dụng khác với nhà sản xuất kinh doanh, các tầng lớp dân cư, v.
Trong quan hệ tín dụng này, hành vi mua ban di tách rời hành vi cho vay. Chẳng hạn, ngân hàng huy động được 114 các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp, tổ chức, tầng lớp dân cư, v. Đồng thời, ngân hàng sử dụng nguồn vốn này để đáp ứng mọi nhu cầu về vốn ngắn hạn, trung hạn và đài hạn cho các doanh nghiệp và các cá nhân. Thông qua phát .