Chương 1 HE THONG TIEN TE VA THANH TOAN QUOC TE 1. Lịch sử hệ thống tiền tệ và thanh toán quốc tế e Thời kỳ lấy vàng làm cơ sở (Bắn vị vàng) (1876-1913) Từ thời Pharaohs (3000 trước công nguyên) vàng đã được sử dụng như phương tiện trao đổi và dự trữ giá trị. La Mã và Hy Lạp sử dụng đồng tiền vàng và tiền vàng được sử dụng trong mua bán hàng hoá. Cho đến thế kỷ 19, khi thương mại quốc tế tăng lên, các quốc gia tham gia thương mại quốc tế vẫn cố gắng tính toán sức mua trung bình của đồng tiền quốc gia mình theo vàng.
Cơ chế này được gọi là hệ thống tiền tệ và thanh toán thương mại quốc tế lấy vàng làm cơ sở (The gold standard - Bản vị vàng). Cơ chế hoạt động của hệ thống tiền tệ và thanh toán quốc tế lấy vàng làm cơ sở như sau: Mỗi một quốc gia sẽ hình thành tỷ giá mà theo đó một đơn vị tiền tệ của quốc gia đó được chuyển đổi ra một lượng vàng nhất định. Chẳng hạn, Hoa Kỳ công bố Đô la Mỹ chuyển đổi ra vàng theo mức giá 20,67 USD/oz. Bảng Anh chuyên đổi ra vàng theo mức giá GBP 4,2474/oz.
Do đó, tỷ giá GBP/USB sẽ là: DSD20,67/oz ————— = USD4,8665/ GBP GBP4,2474/ oz Chính phủ các quốc gia chấp nhận việc mua hoặc bán vàng ở mức cầu cân bằng cô định. Điều này tạo cơ chế để duy trì giá trị đồng tiền tương ứng với vảng. Do đó tạo ra sự cân bằng ỗn định giữa các đồng tiền. Vấn đề quan trọng đối với các quốc gia để duy trì tỷ giá ôn định là duy trì lượng vàng dự trữ.
Tăng cung tiền phụ thuộc vào sự tăng lên của vàng dự trữ. e Thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thể giới (1914-1944) Thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, giá của các đồng tiền đao động lớn so với vàng và thiêu một cơ chế kiểm soát tiền tệ thống nhất. Do tác động của các nhân tổ chính trị, kinh tế, các nhà đầu cơ có xu hướng bán các đồng tiền yếu, làm cho các đồng tiền này càng yếu đi và tăng dự trữ các đồng tiền mạnh. Hệ thống tiền tệ và thanh toán thương mại quốc tế thiểu sự ôn định đã cản trở rất lớn các hoạt động kinh doanh tài chính và kinh đoanh thương mại quốc tế.
Vì lẽ đó, nhiều quốc gia có xu hướng quay lại cơ chế tiền tệ và thanh toán thương mại quốc tế lấy vàng làm cơ sở. Hoa Kỳ cố gắng quay lại chế độ lấy vàng làm cơ sở năm 1919, sau đó là vương quốc Anh 1925 và Pháp 1928. Hoa Kỳ đã sửa đổi chế độ lấy vàng làm cơ sở vào năm 1934 khi Đô la Mỹ giảm giá xuống mức USD 35/oz năm 1935. e Hệ thống tiền tệ theo hiệp ước Bretffon Woods (1944) Hệ thống tiền tệ lay vang lam cơ SỞ được kết thúc theo thoả thuận tại Bretton Woods, New Hamphine, 1944.
Theo hiệp ước Bretton Woods, tat cả các quốc gia cố định giá trị đồng tiền với 4 vàng nhưng không đòi hỏi chuyển đổi tiền ra vàng, chỉ có Đô la Mỹ vẫn chuyên đổi ra vàng ở mức giá USD 35/oz. Vì vậy, tất cả các quốc gia sẽ quyết định tỷ giá giữa đồng tiền của nước mình thông qua Đô la Mỹ và tính toán giá trị trung bình biểu hiện bằng vàng của đồng tiền nước đó. Tất cả các quốc gia tham gia hiệp uéc Bretton Woods déu duy trì giá trị đồng tiền trong giới hạn đao động 1% so với giá trị trung bình thông qua bán hoặc mua ngoại tệ hoặc vàng khi cần thiết. Việc phá giá tiền tệ sẽ không được sử dụng như là một chính sách thương mại cạnh tranh, nhưng nếu một đồng tiền quá yếu thì việc phá giá 10% sẽ được chấp nhận không chính thức của IMF, nếu phá giá cao hơn sẽ phải có sự chấp nhận của IME.
© Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (The International Monetary Fund) IME thành lập để hỗ trợ các quốc gia bảo vệ đồng tiền của họ trước những cơn sốc có tính chu kỳ hoặc đột biến. IMF cũng hỗ trợ các quốc gia giải quyết những trục trặc thương mại mang tính cơ cấu. Tuy nhiên, nếu sự thâm hụt cán cân thanh toán của một quốc gia là trầm trọng, IMF không thể giúp quốc gia đó tránh sự phá giá tiền tệ. Để thực hiện chức năng của mình, quỹ của IMF được đóng góp bởi các nước thành viên theo hạn ngạch (Quota) dựa vào kim ngạch thương mại của quốc gia đó.
Hạn ngạch này sẽ được tăng dần và phân bổ cho các nước thành viên phù hợp với mức tăng trưởng thương mại thế giới và số lượng các nước thành viên tăng lên. Hạn ngạch ban đầu được quy định là 25% vàng hoặc bằng Đô la Mỹ, 5% tiền của các quốc gia. Tất cả các thành viên có thể vay tới 25% vàng hoặc đồng tiền chuyển đổi trong thời hạn 12 tháng cộng thêm 100% hạn ngạch. Như vậy, một 5 thành viên có thể vay tới 125% hạn ngạch bằng đồng tiền chuyển đổi hoặc vàng mặc dù đóng góp 25%.
IMF han ché mức vay lần đầu không quá 25% nhằm đảm bảo mức vay tiếp theo có thể giải quyết được trục trặc tiền tệ của nước vay. Cùng với sự phát triển, hạn ngạch cho vay của [ME càng ngày càng tăng, từ 125% đến 150%, 450% và hiện nay là 600% so với hạn ngạch của quốc gia thành viên đó. °Cic đồng tiền chuyển đổi và dự trữ (Convertible Currencies and Reserve) Sau chiến tranh thế giới thứ II, nhiều quốc gia dự trữ vàng, Đô la Mỹ, Bảng Anh, các đồng tiền chuyển đổi khác và Quyền rút vốn đặc biệt (Special Drawing Right- SDR) nhằm duy trì sức mua đồng tiền của họ. Vào đầu những năm 1960, dự trữ tiền tệ quốc tế bắt đầu gặp những trục trặc do cán cân thanh toán của Mỹ thâm hụt lớn.
Một số nước có tiền tệ dự trữ bằng các đồng tiền trên cũng bị thâm hụt, đặc biệt là Mỹ, Anh và Pháp nên các nhà đầu cơ và các ngân hàng trung ương đã nghỉ ngờ khả năng duy trì giá trị dự trữ tiền tệ của các đồng tiền đó nên có xu hướng chuyển đổi tiền tệ của họ ra vàng hoặc Đô la Mỹ. Bằng chứng là giá vàng tại thị trường London dao động lớn, cao hơn rất nhiều mức giá chính thức USD 35/oz và làm cạn kiệt nguồn vàng và ngoại tệ ở các nước đang thâm hụt dự trữ. Trước thực trạng đó, Anh đã buộc phải phá giá đồng Bảng Anh hơn 14% năm 1967, giảm từ 2,80USD/GBP xuống 2,40USD/GBP. Pháp đã phá giá đồng France năm 1969.
Mặc dù Mỹ đã đề ra nhiều giải pháp để kiểm soát tình trạng thâm hụt nhưng cũng chỉ kéo dài được đến năm 1971. 6 e Hoán đôi tién té chinh thiec (Official Currency Swaps) Hoán đổi tiền tệ chính thức nhằm tăng cung dự trữ tiền tệ quốc tế tạm thời được thực hiện từ những năm 1960. Hiệp ước hoán đổi đã được ký kết trong số các ngân hàng trung ương của 10 nước công nghiệp phát triển nhất. Chắng hạn, Anh giảm lượng vàng so với Đức, ngân hàng Anh sẽ tạo ra tín dụng Bảng Anh với ngân hàng Đức và đến lượt ngân hàng Đức lại có được tín dụng Mác Đức của ngân hàng Anh.
Với cách hoán đổi ngoại tệ, cả hai ngân hàng sẽ có được khoản tín dụng cần thiết theo đồng tiền thích hợp phục vụ mục đích của mình mà không cần thực hiện mua bán trên thị trường. Hoán đổi ngoại tệ chính thức cũng góp phần ổn định tỷ giá, chống biến động. Vấn đề ở chỗ thực hiện hoán đổi ngoại tệ chỉ là giải pháp tạm thời còn duy trì dự trữ cần thiết nhằm tác động tích Cực đến thương mại quốc tế của các quốc gia thì không thể giải quyết được. e Quyền rút vẫn đặc biét (Special Drawing Rights) Một giải pháp được [ME thực hiện vào cuối năm 1967 để tăng dự trữ tiền tệ thế giới là tạo ra “Quyền rút vốn đặc biệt (Special Drawing Rights - SDRs)”.
SDRs được IME tạo ra và phân bỗ cho các quốc gia thành viên theo hạn ngạch của các quốc gia đó nhằm đáp ứng đầy đủ hơn lượng dự trữ tiền tệ so với khối lượng thương mại thế giới. SDRs chỉ được chuyển đổi giữa các ngân hàng trung ương và có thể chuyển đổi ra các đồng tiền khác nhưng không được chuyển đổi thành vàng. SDRs được phát hành vào đầu 1970 và cho đến 1990 đã có hơn 20 tỷ SDRs (tương ứng với 26 tỷ USD) lưu thông trên thế giới, chiếm khoáng 4% dự trữ quốc tế không kể vàng. Giá trị của SDRs dựa trên giá trị trung bình của 16 đồng tiền mua bán chủ yếu trên thị trường tiền tệ và có ty trọng lớn nhất trong tổng thương mại thế giới.
Lúc đầu, một SDR tương đương với một USD nhưng SDR dao động nhiều hơn USD. Vào đầu năm 1981, giá tiền cơ sở giảm xuống còn 5 và một SDR tương đương với 1,27174 USD. Khi tỷ giá USD/SDR được hình thành, giá trị của bất kỳ đồng tiền nào thể hiện băng SDR đều được xác định thông qua tỷ giá thị trường với USD và chuyển đổi thành SDR thông qua tỷ giá USD/SDR. Tý giá SDR với hơn 40 đồng tiền được tính toán và thông báo hàng ngày bởi IME.
e Đô la châu Âu và phát triển thị trường Đô la Châu Âu Đô la Châu Âu (Eurodollar) là Đô la Mỹ gửi ở các ngân hàng ngoài Hoa Kỳ. Các ngân hàng có thể là ngân hàng nước ngoài, chỉ nhánh nước ngoài của các ngân hàng Hoa Kỳ hoặc các chi nhánh ngân hàng quốc tế. Kỳ bạn Đô la châu Âu trong các ngân hàng ngoài Hoa Kỳ dưới dạng tín dụng rất ngắn hạn (Tín dụng qua đêm) đến dài hạn, tham gia từ các phương thức giao dịch giao ngay đến giao dịch có kỳ hạn. Đô la châu Âu tổn tại dưới các dạng từ điện chuyển tiền đến các chứng chỉ tiền gửi, các loại ngoại hối đến các phương tiện thanh toán được phát hành bởi ngân hàng và các chủ thể kinh đoanh như hối phiếu, kỳ phiếu và Séc.
Đô la châu Âu được chuyển bằng mọi phương thức trên thị trường tiền tệ quốc tế. Bất cứ đồng tiền nào cũng có thể tồn tại dưới hình thức một đồng tiền châu Âu như Euromarks, Eurosterling, Euroyen, v. Các ngân hàng nắm giữ các đồng tiền châu Âu được gọi là “Eurobanks” và thực hiện tất cả các phương thức giao dịch trên thị trường tiền tệ châu Âu cũng như thế gidi.