chương 1 là khởi đầu giới thiệu cho việc phân tích hơn các nội dung về quản trị các loại rủi ro trong ngân hàng ở các chương tiếp theo. Tổng quan về rủi ro 1. Khái niệm về rủi ro Sự không chắc chắn (Uncertainty) Sự không chắn chắc đề cập đến một tình huống có nhiều lựa chọn thay thế dẫn đến một kết quả cụ thể, nhưng xác suất của kết quả đó là không biết được. Điều này là do không đủ thông tin hoặc kiến thức về tình trạng hiện tại nên khó để xác định hoặc dự đoán kết quả hoặc sự kiện trong tương lai.
Trong môi trường kinh doanh thay đổi nhanh chóng và không thể đoán trước như ngày nay, sự không chắc chắn là một thực tế không thể tránh khỏi đối với các tổ chức thuộc mọi quy mô và ngành nghề. Một sự thay đổi đột ngột trong chính sách của chính phủ, suy thoái kinh tế, thiên tai, biến động thị trường, đổi mới công nghệ … là một vài ví dụ về sự không chắc chắn, vì kết quả ảnh hưởng của nó rất khó đoán trước. Tuy nhiên, các doanh nghiệp thành công đã học cách vượt qua những sự không chắc chắn và thậm chí phát triển mạnh mẽ sau khi vượt qua những sự việc đó. Sự không chắc chắn không thể đo lường được và do đó chúng ta không thể loại bỏ nó, nhưng chúng ta có thể giảm bớt giá trị rủi ro của sự không chắc chắn.
Ví dụ một công ty có doanh thu bằng ngoại tệ, để giảm thiểu tác động của của tỷ giá hối đoái đến thu nhập, công ty có thể vay bằng chính loại ngoại tệ đó. Hoặc kế hoạch được lập cẩn thận, kỹ lưỡng sẽ hạn chế các quyết định có nhiều sự không chắc chắn. Rủi ro (Risk) Theo Crouhy và cộng sự (2014), tương lai không thể đoán trước được, đó là sự không chắc chắn. Chẳng hạn như việc chưa có ai thành công trong dự báo một cách 12 chính xác về thị trường chứng khoán, lãi suất, tỷ giá hối đoái hoặc giá cả hàng hóa - hoặc các sự kiện tín dụng, hoạt động, hệ thống ….
Tuy nhiên, hạn chế những rủi ro gia tăng bên trong sự không chắc chắn là điều có thể quản lý được. Quan điểm này hàm ý rủi ro là những kết quả (tích cực hoặc tiêu cực) xảy ra trong sự không chắc chắn, hoặc rủi ro là tập hợp con của sự không chắc chắn, những cái mà có thể được định lượng được. Một số khác cho rằng rủi ro là khả năng thua lỗ do sự tương tác với sự không chắc chắn. Sự tương tác này phát sinh từ giá trị rủi ro (exposure) của các doanh nghiệp tài chính với tính ngẫu nhiên của sự không chắc chắn.
Giá trị rủi ro là mức độ mà doanh nghiệp có thể bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố tác động tiêu cực đến thu nhập. Ví dụ, giá trị rủi ro đối với sự biến động của tỷ giá hối đoái đó là quy mô doanh thu bằng ngoại tệ; Hoặc mức độ nhạy cảm với lãi suất có thể được đo lường bằng quy mô nợ nhạy cảm với sự biến động của lãi suất thị trường. Trong tài chính, rủi ro được xác định bởi sự không chắc chắn có hậu quả bất lợi đối với thu nhập hoặc tài sản hoặc sự không chắc chắn chỉ liên quan đến kết quả tiêu cực. Như vậy, rủi ro và sự không chắc chắn là hai khái niệm thường gặp trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực tài chính và quản trị.
Mặc dù hai khái niệm này thường được sử dụng thay thế cho nhau nhưng thật ra chúng đại diện cho các khái niệm riêng biệt với những hàm ý khác nhau. Vai trò của rủi ro trong các quyết định. Trong một thế giới đầy bất ổn, chúng ta coi rủi ro là bao gồm cả khả năng mang lại cả cơ hội thu được lợi nhuận cũng như khả năng thua lỗ.1 là sơ đồ Venn về mối tương quan giữa rủi ro và lợi nhuận, sẽ giúp chúng ta hình dung khả năng mang lại lợi nhuận từ những cơ hội đầu tư có rủi ro. Đối với doanh nghiệp và cá nhân, rủi ro là một yếu tố được cân nhắc trong mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản cùng với mong muốn giảm thiểu những nguy hiểm liên quan đến thất bại, phá sản hoặc những hậu quả bất lợi khác.
Vòng tròn bên phải của hình 1. thể hiện sự giảm thiểu các hậu quả bất lợi dẫn đến sự thất bại, phá sản. Vòng tròn bên trái thể hiện cơ hội tối đa hóa giá trị tài sản khi rủi ro xảy ra. Giống như hầu hết các sơ đồ Venn, hai vòng tròn giao nhau để tạo ra tập hợp các cơ hội mà mức độ rủi ro được chấp nhận (Vòng tròn bên trái) để thu được lợi nhuận cao nhất (Vòng tròn bên phải).
Khu vực giao nhau là tập hợp mà tại đó rủi ro là tối thiểu và giá trị là tối đa. 13 Tối đa hóa giá trị Tối thiểu hóa thất bại Hình 1.1: Sơ đồ Venn về mối tương quan giữa rủi ro và lợi nhuận. Nguồn: Etti và cộng sự (2006) 1. Phân loại rủi ro 1.
Rủi ro thuần túy và rủi ro đầu cơ. Rủi ro thuần túy (Pure Risk) Rủi ro thuần túy là rủi ro mà tất cả các kết quả có thể xảy ra đều ảnh hưởng tiêu cực theo một cách nào đó. Ví dụ tai nạn xe cộ, trộm tài sản hoặc động đất là rủi ro thuần túy, bởi khi xảy ra đều gây nên thiệt hại, hoặc may mắn là không có thiệt hại nào xảy ra, tuy nhiên không hề có một cơ hội lợi ích nào. Rủi ro thuần túy còn gọi là rủi ro tuyệt đối, bởi chỉ có hai kết quả có thể xảy ra: không thay đổi hoặc thay đổi tiêu cực.
Rủi ro thuần túy có những đặc trưng như khả năng (xác suất) xảy ra nhỏ, kết quả nghiêm trọng và tác động tức thời. Chẳng hạn xem xét rủi ro thuần túy như động đất, trộm xe hoặc tai nạn. Những rủi ro này có khả năng xảy ra tương đối nhỏ, đều gây hậu quả nghiêm trọng và tác động tức thời. Hầu như có vô số rủi ro thuần túy xung quanh chúng ta, khả năng chúng ta bị ngạt khi uống nước, bị nghẹt thở khi ăn viên kẹo… rủi ro như vậy có một khả năng rất nhỏ để có thể xảy ra, nhưng nó vẫn có khả năng.
Chúng ta thường bỏ qua những rủi ro thuần túy vì những cơ hội nhỏ bé đó. Trong tài chính, rủi ro thuần túy là một tình huống chỉ có thể kết thúc bằng thua lỗ. Khi bạn mua hợp đồng bảo hiểm tài sản, cả bạn và công ty bảo hiểm đều hy vọng rằng sẽ không có chuyện gì xảy ra với tài sản được bảo hiểm. Nếu bất cứ điều gì xảy ra dẫn đến việc bảo hiểm phải thực hiện bồi thường, điều đó có nghĩa là đã có điều tồi tệ xảy ra với tài sản của bạn.
Công ty bảo hiểm sẽ mất tiền chi trả cho yêu cầu bồi thường và bạn cũng sẽ mất tiền vì hầu hết các khoản thanh toán bảo hiểm không thể bù đắp 14 được tất cả những tổn thất. Không có trường hợp nào mà bảo hiểm sẽ chi trả vì điều gì tốt đẹp xảy ra, bảo hiểm chỉ trả tiền khi điều xấu xảy ra. Điều này giải thích tại sao rủi ro thuần túy là bản chất của bảo hiểm. Rủi ro thuần túy tập trung trong 3 dạng.
Rủi ro thuần túy tài sản (Property Pure Risk) là rủi ro mà chủ sở hữu tài sản phải đối mặt với khả năng tổn thất cả trực tiếp và gián tiếp (hậu quả về sau). Những thiệt hại do thiên tai, hỏa hoạn, trộm cắp, lũ lụt là những ví dụ cho loại rủi ro thuần túy tài sản. Nếu ô tô bị hư hỏng do va chạm thì tổn thất trực tiếp là chi phí sửa chữa. Nếu một công ty gặp hỏa hoạn trong kho, tổn thất trực tiếp là chi phí xây dựng lại và thay thế hàng tồn kho.
Tổn thất gián tiếp hay hậu quả là những tổn thất phi vật chất như tổn thất kinh doanh, ví dụ, một công ty mất khách hàng vì con phố mà công ty kinh doanh đang bị đào bới thi công công trình. Rủi ro thuần túy cá nhân (Personal Pure Risk): hầu như hậu quả tài chính khi rủi ro xảy ra cuối cùng đều do con người gánh chịu nên có thể nói rằng tất cả các rủi ro đều mang tính chất cá nhân. Tuy nhiên, một số rủi ro có tác động trực tiếp hơn đến cuộc sống cá nhân của mọi người. Đối mặt với nguy cơ tử vong sớm, bệnh tật, khuyết tật, thất nghiệp và tuổi già phụ thuộc là những ví dụ về rủi ro thuần túy cá nhân.
Tổ chức cũng có thể gặp tổn thất từ rủi ro thuần túy cá nhân khi những sự kiện này xảy ra và ảnh hưởng đến nhân viên công ty. Ví dụ, các chương trình hỗ trợ xã hội và chế độ hưu trí hoặc y tế do người sử dụng lao động tài trợ có thể bị ảnh hưởng bởi những thay đổi tự nhiên hoặc do con người tạo ra, đây cũng là một loại rủi ro thuần túy cá nhân. Rủi ro thuần túy trách nhiệm (Liability Pure Risk) liên quan đến việc nhận trách nhiệm về những thiệt hại đối với thân thể hoặc tài sản của người khác. Tai nạn ô tô, gây thương tích, gây thiệt hại tài sản cho người khác là những ví dụ về rủi ro thuần túy liên quan đến trách nhiệm pháp lý.
Rủi ro trách nhiệm có thể xảy ra do tổn thất thảm khốc hoặc do tổn thất do tai nạn. Trách nhiệm sản phẩm là một ví dụ minh họa: một công ty có trách nhiệm bồi thường cho những người bị thiệt hại do cung cấp sản phẩm bị lỗi, gây thiệt hại cho cá nhân tiêu dùng hoặc công ty khác sử dụng nó như đầu vào nguyên liệu. Rủi ro đầu cơ (Speculative risk) 15 Rủi ro đầu cơ là rủi ro tồn tại khi ba khả năng có thể xảy ra: thiệt hại, có lợi, không thay đổi. Khái niệm này cho thấy rủi ro đầu cơ xảy ra trong đó có một số kết quả là có lợi, mang ý nghĩa tích cực, không như rủi ro thuần túy gần như kết quả là tiêu cực.
Ví dụ, rủi ro trong đầu tư chứng khoán hoặc kinh doanh mạo hiểm là rủi ro đầu cơ.