CHƯƠNG 1 SƠ LUGC VE KE THONG TEEN TE THE GIGI Mục đích: Mục đích của chương nhằm giỏi thiệu những kiến thức chung, cơ bản nhất về tiền tệ và các loại hình tiền tệ phổ biến trên thế giới, giúp cho người học có cách nhìn tổng quan về tiền tệ đặt nên tảng cho việc học và hiểu được các nội dung sẽ lần lượt được trình bảy trong các chương sau. Yêu cầu: Sau khi học xong chương này người học cần nắm được những kiến thức cơ bản sau: + Bản chất và chức năng của tiền tệ. + Quá trình phát triển của các hình thái của tiền tệ: tiền bằng hàng hoá, tiền giấy, tiền ghi sổ. Khai niệm lạm phát, nguyên nhân, hậu quả của lạm phát và biện pháp khắc phục lạm phát.
Biết được ký hiệu theo ISO của một số đồng tiền trao đổi phổ biến tại Việt Nam. Biết được các loại hình tiền tệ phổ biến trên thế giới hiện nay. Phân biệt được ngoại tệ và ngoại hối. 11 Nội dung sẽ để cập đến những chủ để sau: -.
Bản chất và chức năng của tiền tệ Quá trình phát triển của các hình thái của tiền tệ Lạm phát Các loại hình tiền tệ phổ biến trên thế giới. NHUNG VAN DE CHUNG VE TIEN TE Có quan diém cho rang: “Tién té la thudc do cơ bản nhất, cốt lõi nhất của toàn bộ nên kinh tế. Nó giống như cái thước do có vạch chỉ rõ mét, giây. " Trong thế giới hiện nay vẫn có một vấn đề là thiếu một thước đo tiêu chuẩn ổn định cho tiền tệ, làm cho chính phủ không thể tính toán chuẩn xác quy mô hoạt động kinh tế, doanh nghiệp cũng khó xác định việc đầu tư lâu dài.
Vậy, hiểu “tiền” hay “hệ thống tiền tệ” như thế nào cho đúng là điều rất quan trọng để học và hiểu môn nghiệp vụ thanh toán. Phần sau đây chúng ta cùng nhau nghiên cứu vấn đề này. Bản chất và chức năng của tiền tệ 1. Bản chất của tiền tệ Kinh tế học đã chỉ ra rằng, tiền tệ là một phạm trù kinh tế khách quan, gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hoá.
Khi nghiên cứu về quá trình ra đời của tiền tệ với quan điểm “Tiên tệ là một vật được kết tỉnh, hình thành một cách tự nhiên trong trao đổi” C.Mác kết luận “Trình bày nguồn gốc „ phát sinh của tiền tệ, nghĩa là phải khai triển các biểu hiện của 12 giá tị, biểu hiện bao hàm trong quan hệ giá trị của hàng hoá, từ hình thái ban đầu giản đơn nhất và ít thấy rõ nhất cho đến hình thái tiền tệ là hình thái mà ai nấy đều thấy” (C.Mác - Tư bản - NXB Sự thật Hà Nội, năm 1963 - Quyén I, Tap I, trang 72,75). Trong trao đổi, hình thức giá trị biểu hiện qua bốn hình thái: hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên; hình thái giá trị toàn bộ hay mở rộng; hình thái giá trị chung và hình thái tiền tệ. Từ hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên đến hình thái tiền tệ là một quá trình lịch sử lâu dài, nhằm giải quyết các mâu thuẫn vốn có trong bản thân hàng hoá. Sự xuất hiện của tiền tệ trong nền kinh tế thị trường đã chứng minh rằng: Tiền tệ là một phạm trù kinh tế- lịch sử, là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa.
Tiên tệ ra đời, phát triển và tồn tại cùng với sự phát sinh, phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa. Điều đó có nghĩa là ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa, thì ở đó chắc chắn phải có tiền tệ. Tiền tệ ra đời đã làm cho việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ được dễ dàng, nhanh chóng hơn. Vì tiền có thể trao đổi trực tiếp với mọi hàng hóa trong bất kỳ điều kiện nào và tiền có thể thỏa mãn được nhiều nhu cầu của người sở hữu nó nên tiền được coi là một hàng hoá đặc biệt.
Nhu vay,vé bản chất: "Tiển tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt được tách ra khỏi thế giới hàng hóa đóng vai trò làm vật ngàng giá chung dé do lường giá trị của của tất cả các hàng hoá, dịch vụ khác. Tiền là một phương tiện bất kỳ được chấp nhận chung để trao đổi hàng hóa, dịch vụ và thanh toán các khoản nợ. Nó là phương tiện trao đổi 13 Tuy nhiên để có một định nghĩa chính xác vẻ tiền tệ là điều không đơn giản. Giáo sư Milton Spencer - Nhà kinh tế học Mỹ- cũng thừa nhận rằng “Nếu bạn cho rằng, bạn hiểu một cách chính xác tiền tệ là gì thì bạn còn giỏi hơn nhiều nhà kinh tế học”, (Kinh tế học hiện đại phần 111).
Sự huyền bí của tiền là ở chỗ: chúng ta cầm những tờ giấy không có giá trị thực, tuy nhiên chúng ta có thể đi vào cửa hàng đổi những tờ giấy này lấy hàng hóa có giá trị thực. Tại sao vậy? Thực ra tiền hay hệ thống tiền tệ, là một thứ mà cho phép người ta thực hiện giao dịch với những thứ khác. Một xã hội không có đồng tiền được chấp nhận chung giống như một xã hội không có tiếng nói chung. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi mà nền kinh tế hàng hóa phát triển cao độ, trình độ công nghệ ngân hàng hiện đại thì câu trả lời cho tiền tệ vẫn là điều bí ẩn.
Trong các quan niệm cổ điển cho rằng, tiền là vàng, bạc, hoặc là các tờ giấy bạc ngân hàng thì các nhà kinh tế học hiện đại còn cho rằng: kỳ phiếu, hối phiếu, séc. cũng là tiền tệ. Giáo sư Tiến sỹ người Anh A.L DẠY đã kết luận: “Từ những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ này, nhiều dạng tiền tệ đã là những hình thái của tài sản thực sự, chủ yếu là vàng và bạc. Nhưng thời kỳ đó đã qua rồi và toàn bộ tiền tệ đang sử dụng trong nền kinh tế hiện đại đều là những trái quyền” (Kinh tế tiền tệ, LICOSAXUBA Hà Nội biên dịch năm 1989, trang10).
Quan niệm mới vẻ tiền đã làm phong phú thêm bản chất của nó, đồng thời mở ra hướng phát triển trong tương lai của các phương tiện trao đổi trong nền kinh tế thị trường. Chức năng của tiền tệ Do sự phát triển của nền kinh tế thị trường, thành phần của tiền đã có những nội dung thay đổi. Vì vậy, việc để cập đến các chức năng của tiền cũng có nhiều trường phái khác nhau. Một trường phái, quan điểm cho rằng tiền tệ thực hiện 5 chức năng là: chức năng thước đo giá trị, chức năng phương tiện lưu thông, chức năng phương tiện cất trữ giá trị, chức năng phương tiện thanh toán, chức năng tiền tệ thế giới.
Một trường phái, quan điểm cho rằng tiền tệ thực hiện 3 chức năng là: chức năng phương tiện trao đổi, chức năng đơn vị đo lường giá trị và chức năng phương tiện dự trữ về mặt giá trị. Xem xét ở mức độ tổng quát, hai quan điểm này hoàn toàn không mâu thuẫn với nhau. Phần sau đây sẽ đưa ra chức năng cuả tiền tệ theo quan điểm thứ hai: ~ Chức năng phương tiện trao đổi Khi chúng ta nói tiền đóng vai trò là phương tiện trao đổi thì đồng nghĩa với việc người bán và người mua sẽ chấp nhận nó với tư cách là phương tiện thanh toán trong các giao dịch trên thị trường, người lao động trao đổi các dịch vụ lao động để lấy tiền. Chúng ta nhận đồng tiền không phải trực tiếp để tiêu dùng nó mà để về sau có thể dùng nó mua những thứ mà chúng ta thực sự cần tiêu dùng.
Tiền là phương tiện mà qua đó người ta trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ. Nếu không có một phương tiện trao đổi được chấp nhận rộng rãi thì chúng ta sẽ phải dựa vào chế độ hàng đổi hàng. Chế độ hàng đổi hàng đơn giản là sự trao đổi trực tiếp. Việc trao đổi rất tốn kém và lãng phí trong một nền kinh tế hàng đổi hàng do người ta phải mất nhiều thì giờ và công sức đi tìm những người 15 có thể tiến hành trao đổi vừa ý cả hai bên như trùng hợp với mình về nhu cẩu trao đổi, thời gian trao đổi, không gian trao đổi.
Vì vậy, việc dùng tiền làm phương tiện trao đổi đã nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế, bởi nó đã tiết kiệm được các chỉ phí quá lớn trong quá trình trao đổi trực tiếp (hàng đổi hàng). Tiền tệ làm môi giới trung gian trong trao đổi đã hoàn toàn khắc phục được các hạn chế đó là quá trình trao đồi trực tiếp. Người có hàng bán lấy tiền, sau đó sẽ mua được hàng, mà họ cần. Bởi vậy, người ta coi tiền như thứ dầu mỡ bôi trơn, cho phép nền kinh tế hoạt động trôi chảy hơn, khuyến khích chuyên môn hóa và phân công lao động.
h Mặc dù điểm cốt lõi của tiền là việc nó được chấp nhận làm phương tiện thanh toán hay phương tiện trao đổi, tiền còn có hai chức năng khác nữa là chức năng đơn vị đo lường giá trị và chức năng phương tiện dự trữ về mặt giá trị. - Chức năng đơn vị áo lường giá trị Tiền tệ là đơn vị đo lường giá trị, nghĩa là nó được dùng để do lường giá trị các hàng hóa, dịch vụ trước khi thực hiện trao đổi. Có bao nhiêu hàng hóa đưa ra trao đồi thì có bấy nhiêu giá cả. Người ta đo giá trị của hàng hóa và dịch vụ bằng tiền giống như người ta đo trọng lượng của một vật bằng kilôgam, đo chiều dài một vật bằng mét.
Khi thực hiện chức năng thước đo giá trị, giá trị của tiền được coi là chuẩn mực để đo giá trị của tất cả các hàng hóa khác phải so sánh với nó. Tiền tệ thực hiện chức năng thước đo giá trị khi nó biểu hiện giá trị của hàng hóa về mặt chất và đo lường giá trị hàng hóa về mặt lượng. 16 Để thực hiện chức năng đơn vị do lường giá trị, tiền tệ phải có các điều kiện sau dây: + Bản thân tiền tệ phải có giá trị, quy định giá cả cho hàng hóa, chứ không phải biến hàng hóa thành tiền tệ. Bản thân tiền tệ cũng là một loại hàng hóa, tất nhiên nó là một loại hàng hóa đặc biệt thực hiện chức năng làm vật ngang giá chung, nên khi nói đến sự ổn định của đồng tiền, người ta nói đến sức mua của tiền tệ chứ không đề cập đến giá trị của nó.
Nếu nói đến giá trị của đồng tiền thì cần nói đến giá trị và giá trị sử dụng của nó với tư cách là một hàng hóa.