Chương I. Mishkin, Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính, Nxb. Khoa học và kĩ thuật, Hà Nội, 1994. Pháp luật vể ngăn hăng trung ương và ngân hàng thương mại một so nước, Nxb.
Nguyễn Công Nghiệp, Công nghệ ngân hàng và thị trường tiền tệ, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 1993. 30 CHƯƠNG II NGÂN HÀNG NHÀ Nước VIỆT NAM I. VỊ TRÍ PHÁP LÍ, Tư CÁCH PHÁP NHÂN VÀ CHỨC NĂNG, NHỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 1.
Vị trí pháp lí cùa Ngân hàng nhà nước Việt Nam Ngày nay, ờ các quốc gia, tuỳ thuộc vào nguồn gốc hình thành, cơ che thực hiện qụyền lực nhà nước mà ngân hàng trung ương được tổ chức và hoạt động có những đặc điểm riêng, nhưng căn cứ vào mối quan hệ với chính phù, ngân hàng trung ương có thể được khái quát dưới hai dạng chính: Ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ và ngân hàng trung ương trực thuộc chính phủ. Ngân hàng trung ương độc lập với chính phù là ngân hàng trung ương không nằm trong cơ cấu bộ máy của chính phù, không chịu sự lãnh đạo, điều hành cùa chính phủ. Hoa Kỳ là nước điển hình thực hiện triệt để mô hình ngân hàng trung ương (gọi là hệ thống dự trữ liên bang Hoa Kỳ) độc lập với chính phù. Theo mô hình này, ý kiến cùa chính phù đối với ngân hàng trung ương chỉ mang tính khuyến nghị mà không mang tính bắt buộc.
31 Ngân hàng trung ương trực thuộc chính phủ là ngân hàng trung ương nằm trong cơ cấu bộ máy của chính phù và chịu sự lãnh đạo, điều hành cùa chính phủ. Mô hình ngân hàng trung ương trực thuộc chính phù được áp dụng ở các nước như Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia. Riêng ở Malaysia, ngân hàng trung ương được tổ chức trong cơ cấu của Bộ tài chính, tương đương cấp cục, vụ. Ngoài hai mô hình cơ bản trên đây, hiện nay cộng đồng kinh tế châu Âu (ẸU) có ngân hàng trung ương chung.
Riêng Vương quốc Anh không tham gia vào liên minh tiền tệ này. Phát hành tiền, lưu thông tiền tệ và sự ổn định giá trị đồng tiền luôn tác động đến sự ổn định, tăng trưởng của mỗi quốc gia, của từng liên minh kinh tể. Đặc biệt, đối với các quốc gia có nền kinh tế ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu thì trạng thái tiền tệ cùa nước đđ có tác động lớn đến trạng thái của hệ thống tài chính của nhiều quốc gia khác. Chính vì vậy, mặc dù mức độ phụ thuộc vào cơ quan hành pháp có khác nhau nhưng các nhà nước đều sử dụng các biện pháp để điều chinh hoạt động phát hành tiền, lưu thông tiền tệ cùa ngân hàng trung ương.
Ở Việt Nam, trong thời kì phong kiến trước khi bị thực dân Pháp xâm lược (năm 1858), việc phát hành tiền tệ là việc đúc tiền cứa vua, chúa. Trong gần 20 năm thực dân Pháp cùng cố chế độ cai trị, ở Việt Nam lưu thông nhiều loại tiền khác nhau. Năm 1875, Ngân hàng Đông Dương (Banque de rindochine - viết tắt là BIC) được thành lập ở Paris để phát hành giấy bạc và tiền kim loại cho các xứ thuộc địa của Pháp ở châu Á. Trên đất Việt Nam, Pháp đặt hai chi nhánh đầu tiên ở Hài Phòng và Sài Gòn, 32 tuy là một công ti tư nhân nhưng hoạt động như một ngân hàng trung ương.
Riêng Nam Kỳ, tuy đã trở thành thuộc địa của Pháp nhưng vẫn sừ dụng đồng tiền cổ truyền của người Việt cùng đồng tiền MEXICO lưu hành từ trước khi Liên quân Pháp - Tây Ban Nha xâm lược Đông Dương. Đồng tiền do Ngân hàng Đông Dương phát hành dần dần thay thế cấc đồng tiền khác ở Việt Nam. Sau năm 1953, Ngân hàng Đông Dương ở Việt Nam bị giải thể. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã sớm đặt nền móng cho một nền tài chính - tiền tệ độc lập.
Trong hoàn cành khó khăn chưa đủ điều kiện vật chất để thành lập ngân hàng trung ương, ngày 15 tháng 11 năm 1945, cơ quan Ẩn loát thuộc Bộ tài chính đã được Chính phù cho phép thành lập với nhiệm vụ sàn xuất tờ bạc Việt Nam đê đưa ra lưu hành. Ngày 31 tháng 01 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh số 18b cho phép Bộ trưởng Bộ tài chính phát hành tờ bạc tài chính Việt Nam để thay thế cho đồng bạc Đông Dương. Ngày 03 tháng 02 năm 1946, cơ quan Tổng phát hành giấy bạc Việt Nam trực thuộc Bộ tài chính chính thức ra đời và hoạt động. Như vậy, trong những năm đầu tiên cùa Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, chức năng phát hành tiền và điều hoà lưu thông tiền tệ do Bộ tài chính thực hiện.
Ngân hàng quốc gia Việt Nam (Ngân hàng nhà nước Việt Nam) được thành lập theo sắc lệnh số 15/SL ngày 06/5/1951 do Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà kí. sắc lệnh này không trực tiếp quy định vị trí pháp lí của Ngân hàng 33 r'i I quốc gia Việt Nam nhưng có quy định rằng Tổng giám đốc là người lãnh đạo Ngân hàng quốc gia Việt Nam có danh vị như bộ trường. Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật, vị trí phấp lí của Ngân hàng nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng nhà nước) ngày càng được xác định cụ thề. Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1990 tại Điều 1 quy định: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (gọi tất là Ngân hàng Nhà nước), là cơ quan của Hội đồng bộ trưởng, có chức năng quàn lí nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng trong cả nước, nhằm ổn định giá trị đồng tiền; là cơ quan duy nhất phát hành tiền cùa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Khoản 1 Điều 1 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam do Quốc hội thông qua ngày 12/12/1997 quy định: "Ngân hàng nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngăn hàng nhà nước) là cơ quan của Chính phù và là ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Đe xác định rõ hơn địa vị pháp lí của Ngân hàng nhà nước Việt Nam trong bộ máy của Chính phú, Điều 2 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010 quy định: Ngân hàng nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phù, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Như vậy, theo quy định này, Ngân hàng nhà nước vừa có vị trí là một bộ trong cơ cấu tồ chức của Chính phù, vừa có vị trí là ngân hàng trung ương. 34 Với vị trí pháp lí là cơ quan ngang bộ cùa Chính phủ, theo quy định cùa Hiến pháp năm 2013, Luật tồ chức Chính phủ, Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Ngân hàng nhà nước là cơ quan ngang bộ có chức năng quàn lí nhà nước về tiền tệ và ngân hàng.
Với vị trí pháp lí cùa ngân hàng'trung ương, Ngân hàng nhà nước là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. Hoạt động vì lợi ích chung của quốc gia là một trong những dấu hiệu thể hiện tính công quyền cùa ngân hàng trung ương. Chính vl vậy, luật ngân hàng trung ương của các nước thường quy định cụ thể về mục tiêu hoạt động của ngân hàng trung ương. Chẳng hạn, Điều 3 Chương I Luật ngân hàng Cộng hoà liên bang Đức (thông qua ngày 26/7/1957) quy định nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của Ngân hàng Liên bang Đức như sau: Ngân hàng liên bang Đức có nhiệm vụ điều tiết hoạt động lưu thông tiền tệ và cung ứng tín dụng cho nền kinh tế nhằm mục đích ổn định tiền tệ.
Còn Ngân hàng quốc gia Hungari, mặc dù được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần nhưng có mục tiêu hoạt động là nhằm hỗ trợ việc thực hiện các chương trình kinh tế cùa Chính phù thông qua chính sách tiền tệ và tín dụng, ổn định và bào vệ sức mua trong và ngoài nước của đồng tiền quốc gia (Điều 3,4 Luật ngân hàng quốc gia Hungari năm 1991). Mục tiêu hoạt động của Ngân hàng nhà nước được quy định ở Điều 4 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam: Hoạt động của Ngân hàng nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảo 35 đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu hoạt động vì lợi ích quốc gia cùa Ngân hàng nhà nước là tiêu chí để phân biệt hoạt động của nó với hoạt động ngân hàng của các định chế tài chính-tín dụng khác trong nền kinh tế. Tư cách pháp nhân của Ngân hàng nhà nước Ngân hàng nhà nước là một pháp nhân.
Tư cách pháp nhân cùa Ngân hàng nhà nước được thể hiện ở các mặt sau: Thứ nhất, Ngân hàng nhà nước thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước thành lập theo sắc lệnh của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà số 15/SL ngày 06/5/1951. Thứ hai, Ngân hàng nhà nước có cơ cấu tồ chức chặt chẽ. Từ khi thành lập đến nay, cơ cấu tổ chức cùa Ngân hàng nhà nước có sự thay đồi qua các thời kì: - Giai đoạn từ 1951 - 1987: Hệ thống ngân hàng được tổ chức theo mô hình một cấp. Theo đó, Ngân hàng nhà nước là hệ thống tổ chức thống nhất toàn ngành, là pháp nhân duy nhất.
Ở trung ương có Ngán hàng nhà nước trung ương là cơ quan lãnh đạo toàn bộ hệ thống các chi nhánh Ngân hàng nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh trực thuộc. Do mô hình tồ chức như vậy nên trong giai đoạn này, Ngân hàng nhà nước là một định chế hỗn hợp, vừa có tư cách của cơ quan thuộc Chính phù vừa có tư cách của ngân hàng trung ương và tư cách của ngân hàng trung gian. 36 Hệ thống tổ chức cùa Ngân hàng nhà nước trong giai đoạn từ 1951 - 1987: - Giai đoạn thí điểm cài cách hệ thống ngân hàng (1987 - 1990): Nhà nước tiến hành cài cách thí điểm hệ thống ngân hàng phù họp với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Tương tự như các nước xã hội chù nghĩa khác, Nhà nước ta tiến hành cải cách hệ thống ngân hàng từ một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp.
Nội dung cơ bàn của cuộc cải cách này là phân chia chức năng quản lí nhà nước và chức năng kinh 1 doanh trong hệ thống ngân hàng.