CHUONG 4: PHAN TICH KET CAU CHIU DONG DAT Chuong 4 PHAN TICH KET CAU CHIU DONG DAT Chương 4 thảo luận việc áp dụng các kiến thức động lực học công trình đã trình bày ở các chương trước vào thiết kế công trình chịu động đất theo tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành.1 sẽ cung cấp các kiến thức căn bán về hiện tượng động đất và nguy cơ xây ra động đất ở Việt Nam.2 sẽ trình bày về cách xác định ứng xử của hệ đản hồi một bậc tự do và nhiều bậc tự do. Bài toán phân tích hệ đàn hồi một bậc tự do là bài toán đễ nhất, song cũng là bài toán mang tính căn bản, nền tảng vì trong thiết kế thực hành, các bài toán phức tạp hơn (nhiều bậc tự do, không đản hồi) có thể được chuyển về bài toán căn bản này để giải quyết.2 đồng thời sẽ trình bày về phổ phản ứng — phương pháp phê biến dùng để biéu điễn tác động của động đất đối với công trình. Phần tiếp theo, 4.3, thảo luận cách chuyên bài toán phi tuyến về bài toán tuyến tính tương đương. Kỹ thuật này được dùng phê biến trong thiết kế thực hành và được nhiều tiêu chuẩn cho phép sử dụng.4 sẽ tổng hợp lại các nội dung của chương và trình bày quy trình thiết kế một công trình chịu động đất theo tiêu chuẩn Việt Nam hiện hảnh.
130 CHUONG 4: PHAN TICH KET CAU CHIU PONG DAT 4.1 HIEN TUQNG DONG DAT 4.1 Hiện tượng động dat Động đất là hiện tượng nên đất dao động mạnh gây ra khi một nguồn năng lượng lớn được giải phóng trong lòng đất. Phần lớn các trận động đất sinh ra từ việc giải phóng năng lượng biến đạng tích lũy trong /ớp vỏ hoặc lớp áo trên của Trái ĐẤt.2 Nguyên nhân động đất Cầu tạo bên trong Trái Đất có thể được mô tả như trên #?ìn 4. Phân trong cùng của quả đất là nản (core). Kể ngoài phân nhân là lớp áo (mantle) có nhiệt độ trung bình 2200°C và tăng dần theo độ sâu.
Vật liệu cầu thành lớp áo ở trạng thái bán dẻo (semimolten). Vì sự chênh lệch nhiệt độ nên các lớp vật liệu bán dẻo trong phần áo liên tục chuyên động theo các đòng đối lưu. Nằm kể ngoài lớp áo là phần vỏ Trái Đất. Vỏ Trái Đất được tạo thành bởi các vật liệu rắn như đá basalt, đá granite, có chiều dày rất bé so với diện tích xung quanh của vỏ (25 ~ 40km dưới các châu lục và 60 ~ 70 km dưới các đại dương).
~ a 2 Y2 CÔ CN Hình 4. Cấu tạo bên trong Trái Đất 131 CHUONG 4: PHAN TICH KET CAU CHIU DONG DAT Lớp vỏ, nơi con người trực tiếp sinh sống bên trên, không phải là một vỏ cầu liên tục mà bị phân chia thành nhiều máng (/ecfomie plates) nổi bên trên phần vật liệu bán đẻo liên tục địch chuyển của lớp áo (Hình 42). Sự địch chuyển của lớp áo làm phần vỏ dịch chuyén theo Hinh 4. Tai vùng tiếp xúc giữa các mảng thach quyén, năng lượng cơ học hình thành và ting dan theo thời gian.
Sau hàng trăm năm, mức năng lượng tích lũy trở nên khống lồ. Đên khi biên đạng ở mặt tiếp xúc vượt quá sức chịu của thạch quyển thị địch trượt xảy ra, một phần lớn năng lượng tích lũy được giải phóng đưới đạng sóng địa chân. Sóng địa chắn lan truyền lên đến mặt đât gây ra rung lắc, gợi là động đất. Các máng thạch quyền #352 CHUONG 4: PHAN TICH KET CAU CHIU PONG DAT Hình 4.
Các dạng dịch trượt giữa các máng thạch quyền (a) Hai mảng thạch quyển dịch chuyên hướng vào nhau, một trong bai mảng chìm xuống bên dưới mảng còn lại (b)_ Hai mảng thạch quyên dịch chuyên hướng vào nhau, các lớp đá vun lên và tạo thêm núi ()_ Hai mảng thạch quyên dịch chuyển ra xa nhan, mắc-ma từ lớp áo trào lên trên, nguội äi và tạo thêm vật liệu cho phan vỏ (4) Hai mảng thạch quyền trượt ngang ngược chiều nhau Cách giải thích nguyên nhân động đất như trên được gọi là thuyết lục địa trôi dat (continental drÿ?). Lý thuyết này phù hợp để giải thích các động đất xuất hiện ở vùng biên các mảng thạch quyên, gọi là động đất rìa máng (intraplate earthquakes). Day la cách giải thích được công nhận rộng rãi nhất hiện nay. Lý thuyết này được khởi xướng trong khoảng hai thập kỷ đầu của thế kỷ XX và đến khoảng năm 1960 thì trở nên phố biến.
Hơn 90% số trận động đất trên thế giới là động đất rìa máng. Phân ít hơn 10% còn lại xảy ra trong lòng các mảng thạch quyền gọi là động đất nội máng (raplate earthquake). Lịch sử chứng kiến một số trận động đất nội mảng gây thiệt hại đáng kế như động 133 CHUONG 4: PHAN TICH KET CAU CHIU DONG DAT dat Gujarat nim 2001 6 An Độ (19.727 người chết và 166.001 người bị thương), chuỗi déng dat New Madrid 6 Missouri, Hoa Ky năm 1811 — 1812 (M 7,0 — 8,1). Không giống như déng dat ria mảng, nguyên nhân của động đất nội mảng chưa thực sự được hiểu rõ.
Tuy nhiên, một cách tổng quát nhất thì động đất nội mảng thường phát sinh khi có đủ hai yếu tố: trường ứng suất đủ lớn trong vỏ Trái Đất và tồn tại đứt gãy địa chất. Động đất, ngoài nguyên nhân từ hoạt động kiến tạo địa chất như giải thích bên trên, còn có tế sinh ra do sập các hang động ngầm, nỗ bom trong lòng đất, núi lửa hay tích nước ở các hồ chứa. Ngành kỹ thuật công trình quan tâm chủ yếu đến động đất kiến tạo bởi loại động đất này có sức phá hủy lớn, gây ảnh hưởng trên điện rộng và lặp lại thường xuyên. x~umnG Ix ae ot 600 Magnitude sẽ a6 Of 8 8 Hình 4.
Hàu hết động đất tập trung ở các khu vực rìa mắng 4. Các đặc trưng cơ bản của động đất Mỗi trận động đất được đặc trưng bởi các thông số cơ bản gồm: 134 CHUONG 4: PHẬN TÍCH KÉT CẤU CHỊU ĐỘNG ĐẤT -_ Thời điểm phát sinh động dat, -_ Tọa độ chấn tâm và độ sâu chắn tiêu; -_ Độ mạnh (độ lớn, magniiude); - Cudng d6 chan d6ng (intensity) ở chân tâm; - Co cau chân tiêu.1 Chắn tiêu và chắn tâm động đất Chấn tiêu (focus, hypocenter) 1a vị trí khởi đầu của một trận động đất. Năng lượng được giải phóng đâu tiên ở vị trí này. Hình chiếu theo phương thẳng đứng của chấn tiêu lên bề mặt Trái Đất được gọi là ebán tâm (epicenter).
Khoảng cách từ chân tiêu tới chan tâm gọi là đô sâu chấn tiếu. Chấn tiêu và chắn tâm 4.2 Độ mạnh động đất Khái niệm đô mạn? (còn gọi là dé lon hay magnitude) được dùng để định lượng năng lượng giải phóng trong một trận động đất. Một trận động đất giải phóng nhiều năng lượng, tức magnitude lớn, không nhất thiết gây ra thiệt hại lớn. Ví dụ trường hợp động đất lớn nhưng nằm ở vùng không có người sinh sống hay động đất nằm quá 135 CHUONG 4: PHAN TICH KET CAU CHIU DONG DAT sâu trong lòng đất thì mức thiệt hại sẽ hạn chế.
Mức độ gây thiệt hại của động đất được biểu thị bởi đại lượng cường độ (imlensify), sẽ trình bày trong phần kế tiếp. Độ mạnh động đất thường được ước lượng gián tiếp thông qua việc phân tích Đăng giỉ chuyến động nên hay giản đồ địa chấn (accelerogram). Có nhiều cách đo năng lượng động đất, mỗi cách có ưu nhược điểm riêng va cho mét loai magnitude khác nhau. Một số thang đo độ mạnh động đất được sử dụng phê biến gồm: thang Riehter, thang đo sóng mặt, thang đo sóng khối và thang đo mô men.
Phân tiếp theo khái quát định nghĩa và đặc trưng cơ bản của một số thang đo magnituđe phô biến: Mi: Độ mạnh động đất theo thang do Richter, Mi, được xác định bằng cách lấy lô-ga-rít co số 10 của biên độ băng ghi chuyển động kim đo từ máy đo Wood-Anderson đặt cách chấn tâm 100 km với biên độ kim tính bằng micro-mét. Độ mạnh Richter còn gọi là độ mạnh địa phương, phù hợp để biểu thị độ lớn các trận động đất nông ở khoảng cách 600 km từ vị trí đo đạc. Mụ là thang đo phổ biến nhất nhưng không phù hợp để biêu thị độ lớn động đất có độ mạnh từ 6 trở lên. Ms: Độ mạnh động đất theo thang do song mat được xác định bởi M, =logA +1,66logA+2,0.
Voi A la bién d6 chuyén dich cực đại của nền đất tính theo micro-mét, A là khoảng cách chấn tâm tính theo độ. Vì A là biên độ dịch chuyển dịch của nền chứ không phải chuyên địch của kim máy đo như trường hợp thang đo Richter nên Ms không phụ thuộc loại thiết bị đo. Ms phù hợp để 136 CHUONG 4: PHAN TICH KET CAU CHIU DONG DAT biểu thị độ lớn động đất nông và xa (độ sâu chấn tiêu không quá 70 km, xa hơn 1000 km) với độ lớn từ trung bình đến lớn. mp: D6 manh dong đất theo thang đo sóng khối được xác định bởi my, =logA —logT +0,01A+5,9.
Với A là biên độ sóng P theo don vj micro-mét va T 1a chu kỳ sóng P. mụ phù hợp để biểu thị độ lớn động đất nông. Các cách xác định độ lớn động đất vừa nêu đều dựa vào việc phân tích băng ghi chuyển động nền. Hạn chế của phương pháp này là khi độ lớn động đất tăng đến một mức độ nhất định thì thiết bị không còn đủ nhạy để thể hiện sự khác biệt trên giản dé gia tốc.
Hiện tượng này được gọi là hiện tượng bão hòa của thang đo động dat. Mi va mp bao hòa ở độ lớn từ 6 đến 7. Đề tránh hiện tượng bão hòa, người ta sử dụng thang đo mô-men, Mw. logM, Mw: Dé manh mé-men, diroc xac dinh boi M,, = —10,7.
Với M,= uAD, u dac trung cho cudng độ vật liệu tại vị trí đứt gãy, A là diện tích mặt đứt gãy và D là độ dịch trượt trung bình. D có thể được xác định từ các máy đo chu kỳ lớn đặt rất xa chấn tâm. Việc xác định các giá trị p va A là khó khăn chủ yếu trong khi dụng Mw. Để hạn chế sự phức tạp này, Bolt (1989) khuyến cáo có thể dùng M, hoặc m, để biểu thị độ lớn của động đất nông có magnitude từ 3 đến 7, M phù hợp biểu thị magnitude 5 dén 7,5, con M,, chi ding dé biéu thị động đất có magnitude lớn hơn 7,5.
137 CHUONG 4: PHAN TICH KET CAU CHIU ĐỘNG DAT Trude khi bi bao hoa, magnitude co duge từ các thang đo khác nhau là gần giống nhau. 9 T~~T~r~T~TTrz~ E ` _— ee ee 4 7E =.