Chương 1: Cơ sở lý luận 1. Hành động ngôn từ và hành động cầu khiến 1. Hành động ngôn từ 1. Lý thuyết hành động ngôn từ Nói đến lý thuyết hành động ngôn từ (speech act theory), chúng ta đều nghĩ ngay đến hai nhà triết học nổi tiếng là J.Searle (1969) - là những người nguời đặt nền móng và tiên phong trong nghiên cứu lý thuyết hành động ngôn từ trên những tiền đề của nhà triết học người Áo, L Wittgenstein.
Qua công trình nghiên cứu “How to do thing with words” ông bày tỏ luận điểm “To say is to do something. Ông cho rằng để biểu hiện, diễn tả một hành động ngôn từ thì cần phải nói ra điều đó và làm. Từ những luận điểm này, các học giả đã xây dựng nên lý thuyết về hành động ngôn từ. Theo đó, hành động ngôn từ quan tâm đến bản chất của lời nói.
Một phát ngôn không chỉ dùng để thông báo hoặc miêu tả một sự tình mà còn được dùng để làm cái gì đó. Khi ta nói một câu tức là chúng ta thực hiện một hành động nào đó bằng phương tiện ngôn ngữ. Chẳng hạn như thông báo, mời, khuyên, tuyên bố, hứa hẹn, nhờ vả,… Trong lý thuyết của mình, J.Austin xem hành động ngôn từ là một thể thống nhất giữa: - Hành động tạo lời (locutionary act) - Hành động tại lời (illocutionary act) - Hành động muợn lời (perlocutionary act) 1. Hành động ngôn từ trực tiếp và hành động ngôn từ gián tiếp J.Searle cho rằng: “…khi sử dụng ngôn ngữ chúng ta không chỉ tạo ra những phát ngôn có chứa mệnh đề về những đối tượng, những thực thể, sự kiện.
mà chúng ta còn thực hiện những chức năng như: yêu cầu, phủ nhận, xin lỗi,. Chúng ta chỉ 11 có thể nhận dạng ra Hành động ngôn từ do một phát ngôn nào đó thực hiện khi chúng ta biết được ngữ cảnh mà phát ngôn diễn ra. Tác giả Đào Thanh Lan (2010: 47) trong cuốn Ngữ pháp - ngữ nghĩa của lời cầu khiến tiếng Việt đã định nghĩa như sau: “Hành động trực tiếp/hiển ngôn là hành động tạo ra đích ngôn trung hiển ngôn được biểu hiện trực tiếp bởi các dấu hiệu hình thức ngôn từ đặc trưng cho nó tức là bằng phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung trực tiếp. Hành động trực tiếp tạo ra lời trực tiếp/chính danh.
Hành động gián tiếp/hàm ngôn là hành động mà đích ngôn trung không được biểu hiện trực tiếp bằng các dấu hiệu hình thức ngôn từ đặc trưng cho nó mà đuợc biểu hiện gián tiếp thông qua dấu hiệu hình thức của hành động khác (hành động dẫn nhập) tạo ra hàm ý của lời được người nghe nhận diện bằng thao tác suy ý trên cơ sở ngữ nghĩa và ngữ cảnh (bao gồm bối cảnh giao tiếp và thể chế, uớc chế xã hội đã được mã hóa). Hành động gián tiếp tạo ra lời gián tiếp/hàm ngôn. Tác giả Diệp Quang Ban (2012) trong cuốn Giao tiếp, Diễn ngôn và Cấu tạo của văn bản viết: “Khi một kiểu câu được dùng đúng với chức năng vốn có của nó thì nó hoạt động với tư cách hành động nói trực tiếp (direct speech act); khi một kiểu câu hoạt động với một chức năng không phải vốn có của kiểu câu đó thì nó hoạt động với tư cách hành động nói gián tiếp (indirect speech act). “Nhiệm vụ của ngữ dụng học là nghiên cứu những hình thức cú pháp-ngữ nghĩa của phát ngôn được dùng để hiện thực hóa một hành động ngôn từ, cũng như nghiên cứu những hành động ngôn từ được hiện thực hóa bằng những hình thức cú pháp-ngữ nghĩa nào.
Hành động cầu khiến J. Searle cho rằng HĐCK “là những cố gắng của sp1 sao cho sp2 thực hiện một việc gì đó. Nó có thể là những cố gắng ở mức độ thấp ví như khi ta gợi ý một ai đó làm việc gì, nhưng cũng có khi là những cố gắng ở mức độ cao (cương quyết) như khi ta tỏ rõ là nhất thiết ai đó phải làm một việc cụ thể nào đấy. Như vậy, có thể thấy theo J.
Searle thì cầu khiến là một loạt hành động xét theo mức độ ép buộc của sp1 đối với sp2 đi từ thấp đến cao hoặc ngược lại. Nguyễn Thiện Giáp trong Dụng học việt ngữ cho rằng: “Cầu khiến là hành động mà người nói sử dụng để khiến người nghe làm cái gì đó. Hành động này thể hiện ở những câu mà nhờ chúng mà người nói khiến cho người nghe làm một việc gì. Thuộc nhóm này có các hành động như: đề nghị, yêu cầu, cho phép, ra lệnh, mời mọc, rủ rê, thỉnh cầu, khuyên, cấm đoán, hỏi, chỉ thị,…”.
Phát ngôn cầu khiến là những phát ngôn của sp1 có lực ngôn trung tác động đến sp2 với mục đích điều khiển sp2 thực hiện hành động X, với hình thức là sự có mặt của một hoặc một vài dấu hiệu ngôn hành. Từ đó chúng tôi chọn quan điểm của J. Searle (1979) để làm cơ sở phân tích và miêu tả các hành động cầu khiến. Theo đó, hành động cầu khiến là những cố gắng của sp1 sao cho sp2 thực hiện một việc gì đó.
Đó có thể là những cố gắng ở mức độ thấp, ví dụ như khi ta gợi ý ai đó làm việc gì, nhưng cũng có khi là những cố gắng ở mức độ cao như khi ta tỏ rõ sự cướng quyết buộc ai đó phải làm một việc cụ thể nào đó. Trong nghiên cứu này, chúng tôi dùng khái niệm hành động cầu khiến theo quan điểm của các nhà ngữ dụng học, đó là nhấn mạnh tầm quan trọng của hành động tại lời trong phát ngôn cầu khiến. Hành động cầu khiến tiếng Hàn 1. Khái niệm “요청-yojeong” trong tiếng Hàn Trong tiếng Hàn, thuật ngữ 요청-yojeong (cầu khiến) được sử dụng để chỉ chung cho các hành động nói năng được thực hiện với cùng mục đích: Sp1 muốn Sp2 thực hiện X hoặc không thực hiện X trong tương lai.
Trong hành động nói năng của bất kỳ ngôn ngữ nào thì hành động cầu khiến luôn thuộc loại phổ biến nhất và thể hiện rõ ràng nhất bản chất tương tác giữa Sp1 và Sp2. Các hành động như yêu cầu, đề nghị, ra lệnh, mời, rủ rê, can ngăn, khuyên,… xuất hiện 13 thường xuyên trong giao tiếp hàng ngày. Trong tiếng Hàn, loạt hành động nói năng này được giới nghiên cứu ngôn ngữ gọi bằng thuật ngữ 요청-yojeong (cầu khiến) và cụ thể hơn là 요청 행위- yojeong haengwi (hành vi cầu khiến) hay 요청화행- yojeong hwahaeng (hành động cầu khiến). Phương thức biểu hiện HĐCKTT trong tiếng Hàn Theo phân loại của loại hình học ngôn ngữ1, tiếng Hàn thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính (첨가어/agglutinative language), các thành phần tạo nên câu luôn được gắn vào một bộ phận để chỉ ra thành phần đó đóng vai trò gì trong câu.
Trật tự các thành phần cơ bản trong câu tiếng Hàn là: 주어 (chủ ngữ) + 목적어 (tân ngữ) + 서술어 (vị ngữ) Mỗi phát ngôn trong tiếng Hàn đều được kết thúc bằng đuôi kết thúc câu (종결어미/terminative ending). Các yếu tố ngữ pháp và tính lịch sự của phát ngôn được chắp dính vào thân từ (어간/stem) hay còn gọi là vị từ ngôn hành (động từ hành động/ động từ trạng thái/ động từ chuyển động/ động từ “이다/là”) tạo ra đuôi kết thúc câu, xác định được ý nghĩa, thể thì (quá khứ, hiện tại, tương lai), chức năng ngữ pháp (câu trần thuật/ câu mệnh lệnh/ câu đề nghị/ câu cảm thán/ câu nghi vấn) và thể hiện thang độ lịch sự của phát ngôn (vị thế giao tiếp của các vai giao tiếp). Theo đó, đuôi kết thúc câu tiếng Hàn gồm có hai dạng: thể quy thức (격식체-formal style) và thể phi quy thức (비격식체-informal style). Trong giao tiếp tiếng Hàn, thông thường cả thể quy thức và thể phi quy thức sẽ được sử dụng song song, người nói phải linh hoạt để lựa chọn cách dùng phù hợp với ngữ cảnh giao tiếp (tình huống giao tiếp diễn ra ở đâu, mức độ thân/sơ giữa các vai giao tiếp như thế nào, kính trọng hay thân mật.Xtankevich (1982), Loại hình các ngôn ngữ, Nxb ÐH&THCN.
14 Từ tham khảo những nghiên cứu đi trước, phân tích đặc trưng của loại hình ngôn ngữ chắp dính, chúng tôi cho rằng: Hành động cầu khiến trực tiếp trong tiếng Hàn được thể hiện qua ba phương thức: i) Hành động cầu khiến trực tiếp được thực hiện thông qua động từ ngôn hành cầu khiến ii) Hành động cầu khiến trực tiếp được thực hiện thông qua vĩ tố kết thúc câu mệnh lệnh iii) Hành động cầu khiến trực tiếp được thực hiện thông qua vĩ tố kết thúc câu đề nghị 1. Thụ đắc ngôn ngữ thứ hai và giảng dạy HĐCK theo quan điểm giao tiếp 1. Lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ thứ hai Thụ đắc ngôn ngữ là thuật ngữ thuộc về tâm lý học và ngôn ngữ học, đó là quá trình mà một người chiếm lĩnh, nắm bắt ngôn ngữ để sử dụng trong giao tiếp. Trong đó, khi người học học và sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình thì đó là quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất (L1), khi người học học và sử dụng các ngôn ngữ khác ngoài ngôn ngữ mẹ đẻ thì đó là quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai (L2).
Nhà ngôn ngữ học người Mỹ, Stephen D. Krashen (1941) đã có nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ ứng dụng. Ông được biết đến là người đặt nền móng cho ngành Thụ đắc ngôn ngữ thứ hai (Second Language Acquisition - SLA), đồng thời ông cũng đồng sáng lập Phương pháp tiếp cận tự nhiên (Natural Approach) và là người phát minh Phương pháp dạy ngôn ngữ kết hợp với kiến thức (sheltered subject matter teaching). Lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ được Krashen đưa ra vào những năm 1970, trong đó ông kết luận rằng “con người có khả năng học ngôn ngữ bẩm sinh và không có khác biệt đáng kể nào giữa cách chúng ta học tiếng mẹ đẻ và cách chúng ta học ngoại ngữ.
Theo Krashen, cách học ngoại ngữ hiệu quả có thể được tóm tắt như sau: chúng ta phát triển năng lực ngôn ngữ (tiếng mẹ đẻ hay ngoại ngữ) thông qua quá trình thụ đắc trực tiếp, không phải từ việc học thuộc danh sách từ vựng, quy tắc văn phạm hay làm bài tập. Hiệu quả thụ đắc trực tiếp diễn ra khi ta có thể hiểu được nội dung mà ta tiếp nhận trong trạng 15 thái tinh thần thoải mái. Để kết quả thụ đắc trực tiếp biến thành năng lực ngôn ngữ thì quá trình tích lũy phải dài và nội dung tiếp nhận phải đa dạng và đủ nhiều. Trần Hữu Luyến (2008) trong Cơ sở tâm lí học dạy học ngoại ngữ cho rằng “sự khác nhau căn bản nhất giữa quá trình thụ đắc ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ là ý thức.
Thụ đắc tiếng mẹ đẻ được bắt đầu theo con đường tự phát, không có sự căng thẳng của ý thức.