Giảm thiểu rủi ro tác nghiệp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích các biện pháp giảm thiểu rủi ro tác nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Tác giả

Nguyễn Thị Vân

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2017

107
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÁC NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Ngân hàng thương mại và rủi ro trong kinh doanh của NHTM

1.1.1. Ngân hàng thương mại

1.1.2. Khái niệm ngân hàng thương mại

1.1.3. Chức năng của ngân hàng thương mại

1.2. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM

1.2.1. Khái niệm rủi ro

1.2.2. Khái niệm rủi ro trong kinh doanh của NHTM

1.2.3. Phân loại rủi ro trong kinh doanh của NHTM

1.3. Rủi ro tác nghiệp tại NHTM

1.3.1. Khái niệm về rủi ro tác nghiệp

1.3.2. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tác nghiệp

1.3.3. Tình hình tổn thất do RRTN tại các NHTM Việt Nam và bài học rút ra trong QTRRTN tại một số nước trên thế giới

1.4. Một số tổn thất do RRTN tại các NHTM Việt Nam

1.5. Bài học kinh nghiệm trong giảm thiểu RRTN tại một số nước trên thế giới

1.6. TÓM TẮT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TÁC NGHIỆP TẠI BIDV

2.1. Giới thiệu về BIDV

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

2.1.2. Thông tin chung

2.1.3. Các sản phẩm dịch vụ chủ yếu

2.1.4. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng giai đoạn 2014-2016

2.2. Thực trạng công tác QTRRTN tại BIDV

2.2.1. Cơ sở pháp lý cho công tác QTRRTN trong hệ thống BIDV

2.2.2. Chính sách, quy định của BIDV liên quan đến quản trị RRTN

2.2.3. Mô hình tổ chức quản lý RRTN tại BIDV

2.2.4. Công cụ QTRRTN của BIDV

2.2.4.1. Công cụ báo cáo dấu hiệu RRTN
2.2.4.2. Công cụ báo cáo sự cố RRTN
2.2.4.3. Công cụ ma trận rủi ro tác nghiệp
2.2.4.4. Công cụ báo cáo giao dịch nghi ngờ, bất thường
2.2.4.5. Công cụ rà soát sản phẩm và phê duyệt sản phẩm mới

2.2.5. Thực trạng rủi ro tác nghiệp tại BIDV

2.2.5.1. Các hành vi gian lận và tội phạm bên ngoài
2.2.5.2. Sai sót trong tác nghiệp của cán bộ
2.2.5.3. Rủi ro phát sinh từ cơ chế, chính sách, quy định, quy trình nghiệp vụ
2.2.5.4. Rủi ro liên quan đến mô hình tổ chức, cán bộ và an toàn nơi làm việc
2.2.5.5. Rủi ro về hệ thống công nghệ thông tin
2.2.5.6. Khảo sát ý kiến của cán bộ công nhân viên của BIDV đối với RRTN và QTRRTN

2.2.6. Đánh giá về công tác giảm thiểu rủi ro tác nghiệp tại BIDV

2.2.6.1. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trên
2.2.6.1.1. Nguyên nhân từ phía BIDV
2.2.6.1.2. Nguyên nhân từ phía khách hàng

2.3. TÓM TẮT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU RỦI RO TÁC NGHIỆP TẠI BIDV

3.1. Mục tiêu định hướng phát triển của BIDV đến năm 2020

3.2. Định hướng hoạt động quản trị rủi ro tác nghiệp của BIDV

3.3. Giải pháp giảm thiểu rủi ro tác nghiệp

3.3.1. Giải pháp về quy định, quy trình tác nghiệp

3.3.2. Giải pháp về con người

3.3.3. Giải pháp về hệ thống hỗ trợ

3.3.4. Tăng cường công tác quản trị điều hành

3.3.5. Tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý rủi ro nói chung và rủi ro tác nghiệp nói riêng

3.3.6. Kiên quyết áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro tác nghiệp nói riêng

3.3.7. Phát triển và đầu tư công nghệ

3.3.8. Các giải pháp khác

3.4. Kiến nghị, đề xuất

3.4.1. Đối với Ngân hàng Nhà nước, các cơ quan quản lý nhà nước

3.4.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước

3.4.3. Kiến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước

3.5. TÓM TẮT CHƯƠNG 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về giảm thiểu rủi ro tác nghiệp tại ngân hàng BIDV

Ngân hàng BIDV, một trong những ngân hàng thương mại lớn tại Việt Nam, đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc quản lý rủi ro tác nghiệp. Rủi ro tác nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày mà còn có thể gây tổn thất lớn cho ngân hàng. Việc giảm thiểu rủi ro này là một nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và nâng cao uy tín của ngân hàng trong thị trường tài chính.

1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của rủi ro tác nghiệp

Rủi ro tác nghiệp tại ngân hàng BIDV được định nghĩa là những tổn thất phát sinh từ các hoạt động hàng ngày do sai sót của con người, sự cố kỹ thuật hoặc quy trình không đầy đủ. Tầm quan trọng của việc quản lý rủi ro này không thể xem nhẹ, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động và uy tín của ngân hàng.

1.2. Các loại rủi ro tác nghiệp phổ biến tại BIDV

Tại BIDV, các loại rủi ro tác nghiệp phổ biến bao gồm rủi ro do sai sót trong quy trình giao dịch, rủi ro từ công nghệ thông tin và rủi ro từ hành vi gian lận. Những rủi ro này có thể dẫn đến tổn thất tài chính nghiêm trọng nếu không được quản lý hiệu quả.

II. Vấn đề và thách thức trong quản lý rủi ro tác nghiệp tại BIDV

Quản lý rủi ro tác nghiệp tại BIDV đang gặp phải nhiều vấn đề và thách thức. Sự gia tăng của các giao dịch điện tử và áp lực cạnh tranh từ các ngân hàng khác đã làm cho việc quản lý rủi ro trở nên phức tạp hơn. Ngoài ra, sự thiếu hụt trong quy trình và công nghệ cũng là một yếu tố quan trọng cần được xem xét.

2.1. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tác nghiệp tại BIDV

Nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro tác nghiệp tại BIDV bao gồm sự thiếu sót trong quy trình làm việc, sự không đồng bộ trong hệ thống công nghệ thông tin và sự thiếu hụt trong đào tạo nhân viên. Những yếu tố này làm gia tăng khả năng xảy ra sai sót và tổn thất.

2.2. Tình hình rủi ro tác nghiệp tại BIDV trong những năm qua

Trong những năm gần đây, BIDV đã ghi nhận một số vụ việc liên quan đến rủi ro tác nghiệp, bao gồm các sai sót trong giao dịch và các hành vi gian lận. Những sự cố này đã gây ra tổn thất tài chính và ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng.

III. Phương pháp giảm thiểu rủi ro tác nghiệp tại ngân hàng BIDV

Để giảm thiểu rủi ro tác nghiệp, BIDV cần áp dụng một số phương pháp quản lý hiệu quả. Việc cải tiến quy trình làm việc, nâng cao công nghệ thông tin và đào tạo nhân viên là những giải pháp quan trọng. Ngoài ra, việc xây dựng một văn hóa an toàn trong tổ chức cũng là một yếu tố cần thiết.

3.1. Cải tiến quy trình làm việc tại BIDV

Cải tiến quy trình làm việc là một trong những giải pháp quan trọng để giảm thiểu rủi ro tác nghiệp. BIDV cần xem xét và điều chỉnh các quy trình hiện tại để đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong các giao dịch.

3.2. Đầu tư vào công nghệ thông tin

Đầu tư vào công nghệ thông tin hiện đại sẽ giúp BIDV nâng cao khả năng quản lý rủi ro. Các hệ thống tự động hóa và phân tích dữ liệu có thể giúp phát hiện sớm các dấu hiệu rủi ro và giảm thiểu sai sót trong quá trình tác nghiệp.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại BIDV

Việc áp dụng các giải pháp giảm thiểu rủi ro tác nghiệp tại BIDV đã mang lại một số kết quả tích cực. Nghiên cứu cho thấy rằng việc cải tiến quy trình và đầu tư vào công nghệ đã giúp giảm thiểu đáng kể các sai sót trong giao dịch. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục theo dõi và điều chỉnh để đảm bảo hiệu quả lâu dài.

4.1. Kết quả đạt được từ các giải pháp đã triển khai

Các giải pháp đã triển khai tại BIDV đã giúp giảm thiểu số lượng sai sót trong giao dịch và nâng cao hiệu quả hoạt động. Điều này không chỉ giúp bảo vệ tài sản của ngân hàng mà còn nâng cao uy tín trong mắt khách hàng.

4.2. Bài học kinh nghiệm từ các ngân hàng khác

BIDV có thể học hỏi từ kinh nghiệm của các ngân hàng khác trong việc quản lý rủi ro tác nghiệp. Việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế và các phương pháp quản lý hiện đại sẽ giúp ngân hàng nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro.

V. Kết luận và tương lai của quản lý rủi ro tác nghiệp tại BIDV

Quản lý rủi ro tác nghiệp tại BIDV là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Việc áp dụng các giải pháp hiệu quả sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu tổn thất và nâng cao uy tín. Tương lai của quản lý rủi ro tại BIDV sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng và cải tiến liên tục.

5.1. Tầm nhìn tương lai cho BIDV

BIDV cần xây dựng một tầm nhìn dài hạn cho việc quản lý rủi ro tác nghiệp, trong đó chú trọng đến việc cải tiến quy trình và công nghệ. Điều này sẽ giúp ngân hàng duy trì vị thế cạnh tranh trong thị trường tài chính.

5.2. Khuyến nghị cho các nhà quản lý tại BIDV

Các nhà quản lý tại BIDV cần thường xuyên đánh giá và điều chỉnh các chính sách quản lý rủi ro. Việc tạo ra một môi trường làm việc an toàn và khuyến khích nhân viên tham gia vào quá trình quản lý rủi ro sẽ là chìa khóa cho sự thành công.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ giảm thiểu rủi ro tác nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÁC NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Ngân hàng thương mại và rủi ro trong kinh doanh của NHTM 1. Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh đặc biệt trong nền kinh tế.

Nó đặc biệt vì nhiều lý do khác nhau, nhưng lý do quan trọng nhất là loại hàng hoá chủ yếu mà ngân hàng kinh doanh là loại hàng hoá đặc biệt: tiền tệ. Trong ngôn ngữ các nước phương Tây, từ Banque trong tiếng Pháp cổ và Banca trong tiếng Ý có nghĩa là “cái ghế dài” hay “bàn của người đổi tiền”, dùng để chỉ nơi để đổi tiền, thường có bàn đổi tiền và ghế cho khách hàng ngồi trong cửa hiệu tại các trung tâm thương mại (Nguyễn Văn Tiến, 2010). Trong nghĩa Hán Việt, bản thân từ “Ngân hàng” cũng đã nói lên một cách rõ ràng loại hàng hoá mà loại hình tổ chức này kinh doanh là tiền tệ (ngân). Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng được gọi là một loại trung gian tài chính theo nghĩa là đơn vị chuyển những khoản tiết kiệm của tổ chức, cá nhân (có tiền nhàn rỗi hoặc tạm thời nhàn rỗi trong một khoảng thời gian gửi vào ngân hàng để sinh lời hoặc vì mục đích an toàn hoặc để sử dụng các dịch vụ, tiện ích ngân hàng khác) sang cho các cá nhân, đơn vị cần tiền để hoạt động.

Ở mỗi quốc gia lại có một cách định nghĩa riêng về ngân hàng thương mại. Ở Mỹ, ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà hoạt động thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Ở Ấn Độ, ngân hàng thương mại được định nghĩa là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vay hay tài trợ và đầu tư.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Tại Việt Nam, trong nỗ lực xây dựng một khuôn khổ chung cho quản trị hoạt động ngân hàng thương mại, ngày 16/6/2010, Quốc hội đã thông qua Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 với nền tảng dựa trên Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2004 và Nghị định số 59/2009/NĐ-CP. Luật các tổ chức tín dụng 2010 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2011. Luật quy định rõ: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Như vậy, ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian quan trọng trong nền kinh tế thị trường.

Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại, đồng thời số vốn đó được sử dụng để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế và cá nhân khác với mục đích phát triển kinh tế xã hội. Chức năng của ngân hàng thương mại Tùy vào luật pháp của từng quốc gia và theo từng thời kỳ, NHTM thực hiện các hoạt động kinh doanh với mục đích chủ yếu là tạo ra lợi nhuận. Một cách tổng quát, hoạt động kinh doanh của NHTM là việc cung cấp các “dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu về tài chính của khách hàng” gồm: Dịch vụ tiền gửi và tiết kiệm; Cho vay và đầu tư dự án; Dịch vụ chuyển tiền và thanh toán; Các dịch vụ tài chính và tư vấn; Các dịch vụ ngân hàng quốc tế (Nguyễn Văn Tiến, 2005). Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi: là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.

Cấp tín dụng: là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bão lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ ngân hàng khác. Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản: là việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chị, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khỏan của khách hàng. Như vậy, có thể nói rằng NHTM là một loại định chế tài chính trung gian cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội được huy động, tập trung lại với số lượng để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm mục đích phục vụ phát triển kinh tế- xã hội.

Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM 1. Khái niệm rủi ro Có nhiều định nghĩa về rủi ro khác nhau. Đồng thời với nó có nhiều cách phân loại rủi ro khác nhau. Thuật ngữ “rủi ro” (risk) trong kinh tế học và kinh doanh đã được đưa ra từ lâu nhưng cho đến gần đây, với sự phát triển của ngành khoa học kinh tế lượng và các môn giúp lượng hoá các biến ngẫu nhiên trong hoạt động kinh tế và kinh doanh, “rủi ro” mới trở thành một đối tượng của nghiên cứu và kinh doanh.

Theo quan điểm truyền thống, rủi ro là những vận động không lường trước được của sự vật, hiện tượng và nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Tính “không lường trước được” có thể theo nghĩa khả năng xảy ra, diễn biến và mức độ. Rủi ro thường gắn với tổn thất. Theo quan điểm trung hòa, rủi ro là sự bất trắc không thể đo lường được.

Rủi ro vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những cơ hội nhất định. Nếu nghiên cứu, nhận dạng, đo lường và quản trị rủi ro, con người không chỉ tìm ra được những biện pháp phòng ngừa, né tránh rủi ro thuần túy, hạn chế thiệt hại do rủi ro gây ra mà còn có thể tận dụng được những lợi thế mang lại kết quả tốt đẹp trong tương lai. Có hai cách phân loại rủi ro: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Căn cứ vào tính chất, có hai loại rủi ro: -Rủi ro tĩnh: là những rủi ro mà kết quả của nó chỉ có sự xuất hiện tổn thất, chứ không có khả năng sinh lời và không chịu tác động của những thay đổi trong nền kinh tế.

Những rủi ro này chỉ liên quan đến các đối tượng như: tài sản, con người, … -Rủi ro động: là những rủi ro liên quan đến sự thay đổi, đặc biệt là những thay đổi trong nền kinh tế. Đó là những thay đổi mà kết quả của nó có thể có lợi nhưng cũng có thể sẽ mang đến sự tổn thất. Ví dụ như sự thay đổi trong thị hiếu khách hàng có phù hợp với sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng đang cung cấp hay không, sự thay đổi về công nghệ kĩ thuật có phù hợp với khả năng tài chính của ngân hàng hay không,… Căn cứ vào cách thức, có hai loại rủi ro: - Rủi ro thuần túy: tồn tại khi có một nguy cơ tổn thất nhưng không có cơ hội sinh lợi được. Nói cách khác, rủi ro thuần túy là những rủi ro mà bản thân nó chỉ có khả năng gây ra những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm, như hỏa hoạn, mất cắp, tai nạn giao thông, tai nạn lao động…và nó làm phát sinh một khoản chi phí (để bù đắp thiệt hại) nên cần có biện pháp phòng tránh hoặc hạn chế.

- Rủi ro suy đoán (rủi ro mang tính đầu cơ): là rủi ro mà trong đó những cơ hội tạo ra thuận lợi gắn liền với những nguy cơ gây ra tổn thất, loại rủi ro này là động lực thúc đẩy hoạt động kinh doanh và có tính hấp dẫn cao. Khái niệm rủi ro trong kinh doanh của NHTM Dưới góc độ hoạt động kinh doanh của NHTM, rủi ro được định nghĩa là những sự thay đổi không lường trước được về giá trị tài sản (gồm tài sản có và tài sản nợ) và các nghĩa vụ khác (Nguyễn Văn Nam – Hoàng Xuân Quyến 2002). Các phương châm quản trị rủi ro hiện đại được xây dựng trên cơ sở “Không có rủi ro thì không có lợi nhuận”, và “Rủi ro là cái để quản lý, chứ không phải để tránh”. Phân loại rủi ro trong kinh doanh của NHTM Tất cả các hoạt động của NHTM đều chứa đựng rủi ro hay những yếu tố không lường trước được có thể gây ra tổn thất cho ngân hàng.

Có nhiều cách phân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 loại rủi ro. Theo cách phân loại thông dụng nhất, rủi ro bao gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro tác nghiệp và rủi ro khác. (a) Rủi ro tín dụng Là rủi ro phát sinh khi khách hàng vay không có khả năng thanh toán các nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn theo quy định của hợp đồng tín dụng hoặc các loại thỏa thuận khác phát sinh nghĩa vụ thanh toán của khách hàng. Có nhiều tiêu chí phản ánh rủi ro tín dụng của NHTM như:  Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ  Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu  Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất  Nợ có vấn đề, có khả năng chuyển thành nợ xấu cao  Nợ không có tài sản đảm bảo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ