Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TẠI TÒA ÁN 1. Bản chất của tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm hợp đồng tín dụng ngân hàng và điều khoản lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm hợp đồng tín dụng ngân hàng Trong các văn bản pháp luật của Việt Nam không có một điều khoản nào định nghĩa về hợp đồng tín dụng ngân hàng và các đặc điểm của nó.
Tuy nhiên, hợp đồng tín dụng ngân hàng về bản chất vẫn là một loại hợp đồng dân sự theo quy định tại Điều 385 Bộ luật dân sự 2015: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [31]. Sự thỏa thuận giữa các bên ở đây là việc một bên cho bên còn lại vay một khoản tiền với những quyền và nghĩa vụ cũng như điều kiện nhất định. Dựa trên nội dung chính của loại hợp đồng này cũng như định nghĩa chung về hợp đồng, có thể thấy hợp đồng tín dụng ngân hàng chính là một hình thức của hợp đồng vay tài sản được quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”[31]. Hợp đồng tín dụng tuy là hợp đồng vay tài sản nhưng nó lại có một đặc thù được thể hiện ngay từ tên loại hợp đồng, đó là tín dụng.
Hợp đồng cho vay tài sản chỉ được gọi là hợp đồng tín dụng khi chủ thể cho vay là các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật, trong đó chủ yếu là các ngân hàng. 8 luan an Tổ chức tín dụng theo khoản 1 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 được định nghĩa là: “Doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.”[39] Trong phạm vi luận văn chỉ xét đến hợp đồng tín dụng của ngân hàng. Nói một cách đơn giản, hợp đồng tín dụng ngân hàng là hợp đồng mà bên cho vay là ngân hàng giao một khoản tiền cho bên vay, thường gọi là khách hàng, nhằm sử dụng vào một mục đích nào đó trong thời hạn nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Mức tiền cho vay, mục đích vay có phù hợp với điều kiện của ngân hàng hay không, thời hạn vay và lãi đều dựa trên thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng trong khuôn khổ các quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 23 Thông tư 39/2016/TT – NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng quy định: “1. Thỏa thuận cho vay phải được lập thành văn bản, trong đó tối thiểu có các nội dung sau: a) Tên, địa chỉ, mã số doanh nghiệp của tổ chức tín dụng cho vay; tên, địa chỉ, số chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước hoặc hộ chiếu hoặc mã số doanh nghiệp của khách hàng; b) Số tiền cho vay; hạn mức cho vay đối với trường hợp cho vay theo hạn mức; hạn mức cho vay dự phòng đối với trường hợp cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng; hạn mức thấu chi đối với trường hợp cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán;[24]. c) Mục đích sử dụng vốn vay; […]” [24].
Như vậy, hình thức của hợp đồng tín dụng – dạng cụ thể của một thỏa thuận cho vay phải được lập thành văn bản, bao gồm một số nội dung nhất định. 9 luan an Từ những phân tích trên, có thể rút ra được một định nghĩa chung về hợp đồng tín dụng ngân hàng như sau: Hợp đồng tín dụng ngân hàng là việc thỏa thuận bằng văn bản giữa ngân hàng với tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu vay, trong đó, ngân hàng cho bên vay vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định với điều kiện hoàn trả gốc và lãi trong thời hạn nhất định. Hợp đồng tín dụng ngân hàng có một số đặc điểm như sau: - Về hình thức: hợp đồng được lập ở dạng văn bản, thường sẽ được các bên công chứng, chứng thực. - Về nội dung: mỗi ngân hàng đều có các mẫu hợp đồng tín dụng riêng, tuy nhiên về nội dung các điều khoản bên trong hợp đồng, ngân hàng và bên vay hoàn toàn có thể thỏa thuận tùy theo từng trường hợp và nguyện vọng cụ thể liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên.
- Về chủ thể: bên cho vay của hợp đồng tín dụng ngân hàng là các ngân hàng, được thành lập, có chức năng và hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản có liên quan khác. Bên cho vay phải tuân thủ các trình tự, thủ tục xét duyệt, cho vay, thu hồi, xử lý nợ,… theo đúng quy định của pháp luật. Bên vay có thể là các tổ chức, cá nhân, pháp nhân Việt Nam hoặc các pháp nhân và cá nhân nước ngoài. Bên vay phải thỏa mãn các điều kiện cụ thể mới có thể trở thành chủ thể của hợp đồng tín dụng ngân hàng, chẳng hạn như: năng lực chủ thể, mục đích sử dụng khoản vay, chứng minh được khả năng tài chính,… 1.
Điều khoản lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng Lãi suất tín dụng là khoản tiền thường được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên tổng số tiền vay mà người đi vay phải trả cho người cho vay trong thời gian một tháng, một năm. - Mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 10 luan an - Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng ấn định và thoả thuận với khách hàng trong hợp đồng tín dụng nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng. Về lãi suất cho vay: Mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là lãi suất vay trong các hợp đồng vay tài sản, bao gồm cả các hợp đồng tín dụng do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng (Điều 476 BLDS 2005).
Mới đây, lãi suất vay đã được thay đổi lãi suất vay theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay theo khoản 1 điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017. Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do Tổ chức tín dụng ấn định và thoả thuận với khách hàng trong hợp đồng tín dụng nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng. Khái niệm và nguyên nhân dẫn đến tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng Tranh chấp, theo từ điển luật học Black do West Pub Co. xuất bản năm 1991 (Black’s Law Dictionary), được hiểu là sự mâu thuẫn hoặc bất đồng; sự mâu thuẫn về các yêu cầu, sự đòi hỏi về quyền và lợi ích của một bên trái ngược với yêu cầu của bên còn lại.
Theo Từ điển tiếng Việt [26], “tranh chấp là sự đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa các bên”. Theo các khái niệm trên và khái niệm lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng đã đưa ra trước đó, tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng là những mâu thuẫn hoặc bất đồng về vấn đề quyền và lợi ích của các bên liên quan đến lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng. 11 luan an Tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng chủ yếu xoay quanh các vấn đề liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ trả lãi suất của người vay mà phổ biến nhất vẫn là tranh chấp do chậm thanh toán lãi suất dẫn đến không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng ban đầu ký kết với ngân hàng. Tuy nhiên, phải nói rõ rằng, không phải lúc nào các tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng cũng dẫn đến vi phạm loại hợp đồng này.
Tranh chấp là những bất đồng quan điểm về một vấn đề nào đó, chính vì thế đây có thể là những vấn đề chưa rõ ràng, chưa đạt được sự đồng thuận về cách hiểu giữa hai bên dẫn đến những phương thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác nhau. Ví dụ như những mâu thuẫn trong cách hiểu của ngân hàng và khách hàng về cách tính lãi hay thế nào được coi là phải bị phạt do trả lãi chậm… Nguyên nhân dẫn đến các tranh chấp liên quan đến lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng về cơ bản có hai nguyên nhân chính: - Nguyên nhân khách quan: do quy định của pháp luật và các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến lãi suất trong hợp đồng tín dụng chưa được rõ ràng, minh bạch, dẫn đến những cách hiểu khác nhau khi áp dụng. Xã hội luôn thay đổi theo chiều hướng khác nhau, các mối quan hệ xã hội cũng đổi mới không ngừng kéo theo các giao dịch trong xã hội cũng có thêm nhiều yếu tố phức tạp và đa dạng hơn. Trên thực tế, pháp luật nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, chậm đổi mới dẫn tới hiện tượng pháp luật chạy theo sự thay đổi của xã hội, chứ pháp luật chưa thể dự kiến và điều chỉnh được các mối quan hệ xã hội sắp diễn ra.
Một điều đáng lưu ý là sự hiểu biết về pháp luật của các bên trong hợp đồng còn chưa rõ ràng, mâu thuẫn với nhau về lợi ích giữa các bên dẫn đến nảy sinh tranh chấp. Khi tranh chấp xảy ra, các bên đều cho rằng cách hiểu của mình là đúng và không chịu thực hiện theo yêu cầu của bên còn lại. 12 luan an - Nguyên nhân chủ quan: nguyên nhân chủ quan thuộc về lỗi do chính các bên trong hợp đồng tín dụng ngân hàng.