CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÁC CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1. Cho thuê tài chính 1. Sự hình thành và phát triển của hoạt động cho thuê tài chính Theo Aristole (năm 384-322 trước công nguyên), ý nghĩa của từ “tài sản” nói chung là vấn đề sử dụng nó, chứ không phải vấn đề sở hữu nó. Chính việc sử dụng tài sản mới tạo ra của cải.
Do đó, từ rất xa xưa, các giao dịch thuê tài sản đã bắt đầu xuất hiện và trở nên phổ biến để phục vụ hoạt động sản xuất, phục vụ nhu cầu con người. Người cho thuê là các thầy tu nắm giữ tư liệu sản xuất và người đi thuê là những người nông dân tự do, thợ thủ công, người làm nghề tự do khác. Tài sản được đem giao dịch bao gồm: các công cụ sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, súc vật kéo, nhà cửa, ruộng đất và nhiều tài sản khác nữa… Đến thế kỷ thứ XX, với những bước tiến nhảy vọt của khoa học kỹ thuật, nền kinh tế hàng hóa đã tạo ra rất nhiều sản phẩm đa dạng, hoạt động cho thuê tài sản truyền thống đã không thỏa mãn được một số đòi hỏi, yêu cầu mới của các chủ thể tham gia giao dịch. Từ đó, CTTC đã ra đời bên cạnh hình thức cho thuê tài sản truyền thống.
Khởi xướng và sáng tạo ra hình thức CTTC là Công ty CTTC Hoa Kỳ (United States Leasing Corporation) do Henry Shoeld sáng lập vào tháng 05/1952 để phục vụ cho ngành công nghiệp vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt. Chính Công ty này đã làm cho hoạt động cho thuê tài sản có sự phát triển và thay đổi về chất bằng việc cho ra đời một hình thức cho thuê tài sản mới gọi là CTTC (finance leases), hay còn gọi là cho thuê vốn (capital leases). Hình thức cho thuê này không còn mang tính chất của giao dịch cho thuê tài sản thông thường nữa mà đã mang tính chất của một hoạt động tín dụng. Sau đó, hình thức CTTC lan sang Châu Âu, được ghi vào luật thuê mua của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Pháp năm 1960 với tên gọi “Credit Bail”.
Tại Châu Á, Nhật Bản là quốc gia có ngành kinh doanh cho thuê ra đời sớm nhất. Công ty cho thuê đầu tiên của Nhật được thành lập vào năm 1963, đó là Công ty cho thuê Orient (Orient Leasing Corporation). Đầu những năm 70, hoạt động CTTC cũng bắt đầu xuất hiện ở Hàn Quốc, Ấn Độ, Indonesia. Đến cuối những năm 70 đầu 80, hoạt động CTTC đã phát triển hầu hết ở các nước Châu Á và Châu Phi.
So với các nước Châu Á khác, hoạt độngCTTCthâm nhập vào Việt Nam có phần muộn hơn. CTTC là hình thức cấp tín dụng được pháp luật lần đầu tiên ghi nhận tại Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990 với tên gọi là hoạt động thuê mua tài chính. Ngày 27/05/1995, Thống đốc NHNN ra Quyết định số 149/QĐ-NH5về ban hành thể lệ tín dụng thuê mua. Theo Quyết định này, các tổ chức tín dụng được thành lập công ty trực thuộc hoặc văn phòng Tín dụng thuê mua để quản lý và giám sát hoạt động tín dụng thuê mua.
Tiếp theo đó, ngày 09/10/1995, Chính phủ ban hành Nghị định 64/CP về Qui chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty CTTC tại Việt Nam. Nghị định này đã là cơ sở hướng dẫn và là quyết định cho hàng loạt các Công ty CTTC ra đời. Sau khi Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2010) được ban hành, hoạt động CTTC ngày càng được điều chỉnh một cách chi tiết và hệ thống. Mặc dù hoạt động CTTC cũng đã manh nha ở các ngân hàng thương mại và công ty CTTC đầu tiên chính thức được thành lập ở Việt Nam là vào năm 1996 (Công ty Cho Thuê Tài Chính Quốc Tế VILC, là liên doanh giữa Ngân hàng Công Thương Việt Nam, Công ty Tài chính Quốc tế, Ngân hàng Ngoại thương Pháp, Công ty cho thuê công nghiệp Hàn Quốc, Ngân hàng Tín dụng Nhật Bản), nhưng mãi đến khi Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 của Chính Phủ về tổ chức và hoạt động của Công ty CTTCđược ban hành để cụ thể hoá Luật các TCTDthì hoạt động CTTC ở Việt Nam mới thực sự được hình thành.
Mới đây nhất, chính phủ đã ban hành Nghị định số65/2005/NĐ-CP ngày LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 19/05/2005, số 95/2008/NĐ-CP ngày 25/08/2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2001/NĐ-CP. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật này đã tạo cơ sở và điều kiện thuận lợi cho hoạt động CTTC ở Việt Nam. Hiện nay, ở Việt Nam có 12 công ty CTTC đang hoạt động (Xem phụ lục 1). Hiệp hội CTTC Việt Nam (một tổ chức phi chính phủ được các công ty CTTC tự nguyện tham gia) được thành lập năm 2007, đến nay có 8 thành viên.
Hiệp hội CTTC Việt Nam đã cùng với các công ty CTTC đánh giá tổng kết hoạt động thực tiễn, đề xuất, kiến nghị với Chính phủ, NHNN những vấn đề để hoàn thiện các cơ chế, tạo điều kiện cho các công ty CTTC hoạt động tốt hơn. Lượng vốn cấp theo hình thức CTTC chiếm tỷ lệ khá nhỏ so với hình thức cấp vốn của ngân hàng, chỉ 3-4% tổng dư nợ. Trong khi đó, với lợi thế của mình, đáng lẽ loại hình CTTC phải được phát triển mạnh ở Việt Nam, nơi các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 95% và cần một lượng vốn lớn cho đầu tư, mở rộng. Dù vậy, cũng phải nhìn nhận hoạt động CTTC đã phần nào giảm sức ép và gánh nặng cho hệ thống NHTM trong việc cung ứng vốn, đặc biệt nguồn vốn trung và dài hạn.
Định nghĩa cho thuê tài chính Tại Việt Nam, định nghĩa chi tiết và đầy đủ về CTTC tại Nghị định số 16/2001/NĐ-CP, Nghị định số 65/2005/NĐ-CP như sau: “CTTC là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận”. Đặc trưng của cho thuê tài chính Thứ nhất, CTTC là phương thức cấp tín dụng mà đối tượng là một tài sản cụ thể.
Khác với các hình thức cấp tín dụng khác mà theo đó, TCTD chuyển giao một khoản tiền, trong hình thức cấp tín dụng CTTC, bên cho thuê tiến hành cấp tín dụng bằng cách chuyển giao cho khách hàng (bên thuê) một tài sản cụ thể (máy móc, dây LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 chuyền sản xuất, phương tiện vận tải hoặc động sản khác) để bên thuê sử dụng trong một thời gian nhất định. Bên thuê có nghĩa vụ trả toàn bộ tiền thuê theo thỏa thuận. Tính chất thanh toán trọn vẹn của giao dịch CTTC cho thấy bản chất tín dụng của hoạt động này. Cũng tương tự như pháp luật một số quốc gia trên thế giới, pháp luật Việt Nam ghi nhận CTTC là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn, nhằm phù hợp với đặc điểm của đối tượng cho thuê là những động sản có giá trị, thời gian cần thiết để khấu hao thường từ một năm trở lên.
Thứ hai, CTTC là hình thức cho thuê mà hầu hết các quyền năng của chủ sở hữu (bên cho thuê) được chuyển giao cho bên thuê. Khác với các hình thức thuê tài sản thông thường theo quy định của pháp luật dân sự, trong hoạt động CTTC bên cho thuê thường chỉ giữ quyền sở hữu “danh nghĩa” đối với tài sản cho thuê (quyền này cho phép bên cho thuê có thể thu hồi tài sản cho thuê nếu bên thuê vi phạm hợp đồng), còn những quyền năng cụ thể đối với tài sản cho thuê được chuyển giao hầu như hoàn toàn cho bên thuê. Điều này được lý giải bởi bản chất tín dụng của hoạt động CTTC: Bên cho thuê chỉ quan tâm đến khả năng thu hồi cả gốc và lãi của khoản tín dụng, còn việc sử dụng khoản tín dụng được cấp là quyền của bên nhận tín dụng (bên thuê). Cụ thể hoá những đặc trưng của nghiệp vụ CTTC, quy định pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận CTTC phải có một trong những điều kiện sau đây: Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên; Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại; Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê; Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại Hợp đồng CTTC, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các phương thức cho thuê tài chính 1. Phương thức cho thuê tài chính cơ bản 1. Cho thuê tài chính ba bên Phương thức tài trợ ba bên là phương thức CTTC phổ biến nhất, được áp dụng nhiều nhất để tài trợ cho các doanh nghiệp, đặc biệt là CTTC đối với máy móc thiết bị.
Trên thế giới, 80% hợp đồng CTTC áp dụng theo phương thức này.1: Quy trình CTTC ba bên Nguồn: Tác giả đề tài 1-Bên thuê (bên B) có nhu cầu trang bị tài sản để phục vụ chiến lược kinh doanh, gửi đơn, hồ sơ xin thuê và các đề nghị tài trợ đối với tài sản đã được thỏa thuận với nhà cung cấp (bên C) đến bên cho thuê (bên A) để xin được tài trợ. 2- Bên A tiến hành thẩm định, đàm phán và quyết định ký kết hợp đồng cho thuê tài chính với bên B. 3- Bên A xem xét và ký hợp đồng mua tài sản với bên C. 4- Bên A trả tiền mua tài sản cho bên C theo hợp đồng mua tài sản đã ký kết.
Thời điểm bên A trả tiền mua tài sản cho bên C, là thời điểm nhận nợ của bên B. 5- Nhà cung cấp chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên A. 6- Bên C giao tài sản cho bên B tại địa điểm đã thỏa thuận trong hợp đồng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 thuê tài chính.