MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu đã gây ra mưa lớn ngập úng ở nhiều quốc gia trên thế giới có thể kế đến như bão Katrina tại Hoa Kỳ tháng 8/2005, lũ lụt lịch sử tại Thái Lan vào tháng 11/2011mưa lớn ở Trung Quốc hồi tháng 7/2012 và ở thủ đô Hà Nội nước ta mưa lớn lịch sử đã xảy ra hồi tháng 11/2008 gây thiệt hại lớn về người và tài sản, đại bộ phần đất đai của thủ đô Hà Nội ngập chìm trong nước, ngập lụt kéo dài trong suốt 12 ngày. Hiện tại năng lực tiêu thoát nước bằng động lực rất kém là những nguyên nhân gây ngập úng cho thủ đô Hà Nội mỗi khi có mưa lớn xảy ra.
Việc xây dựng các trạm bơm tiêu nước cho thành phố Hà Nội trong thời gian gần đây đã được sự quan tâm đặc biệt của các cấp các ngành của Thành phố. Điều đó được thể hiện bằng các Quyết định phê duyệt quy hoạch của Thủ tướng như: Quyết định 937/QĐ-TTg ngày 01/7/2009 phê duyệt quy hoạch tiêu nước hệ thống sông Nhuệ, Nghị quyết 09/2012/NQ-HĐND ngày 13/7/2012 của HĐND TP Hà Nội về Quy hoạch phát triển thủy lợi Hà Nội đến năm 2020 định hướng đến năm 2030; Nghị quyết số 08/2012/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua quy hoạch thoát nước thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Thực tế cho thấy, việc lựa chọn giải pháp xây dựng kênh tiêu trong khu đô thị hiện nay gặp rất nhiều bất cập vì kênh đi qua khu đô thị phải đáp ứng đa mục tiêu ngoài nhiệm vụ tiêu nước. Việc lựa chọn giải pháp xử lý không đảm bảo tối ưu sẽ gây ra rất nhiều hệ lụy trong quá trình thi công và khai thác sử dụng như: vấn đề giải phóng mặt bằng, vấn đề quy hoạch đô thị, vấn đề đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông, vấn đề vệ sinh môi trường,… Việc thi công xây kênh mương thoát nước chủ yếu được thực hiện tại các khu vực có nền đất yếu do lịch sử xây dựng để lại vì vậy việc lựa chọn giải pháp thi công sao cho an toàn, đảm bảo kinh tế, kỹ thuật, mỹ thuật, lợi dụng đa mục tiêu trong quá trình khai thác sử dụng là việc làm hết sức quan trọng và cần được quan tâm đặc biệt.
2 Đặc điểm của các công trình kênh mương thuỷ lợi thường gặp phải nền công trình là nền đất yếu, các lớp đất yếu xen kẹp nhau có chiều dầy từ một vài mét đến hàng chục mét, lớp đất tốt thường nằm sâu dưới lòng đất. Trong trường hợp này có nhiều phương pháp để đưa ra giải pháp thi công trong đó phương pháp thi công bờ kênh bằng cừ bê tông dự ứng lực. Hiện nay việc thiết kế, thi công thường sử dụng các giải pháp truyền thống như nạo vét, gia cố, kè cứng hóa hoặc đổ bê tông bờ kênh. Các giải pháp trên gặp rất nhiều khó khăn khi triển khai thực hiện thi công kênh La Khê vì bờ kênh và phía dưới lòng kênh là lớp cát rất dày và dân cư sống sát bờ kênh.
Vì vậy việc Nghiên cứu giải pháp tường cừ bê tông cốt thép dự ứng lực để bảo vệ bờ kênh tiêu La Khê thuộc công trình Trạm bơm tiêu Yên Nghĩa, thành phố Hà Nội là cần thiết. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài. Nghiên cứu giải pháp tường cừ BTCT dự ứng lực trong xây dựng công trình thủy lợi. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: a.
Đối tượng nghiên cứu: Kênh tiêu La Khê của dự án xây dựng Trạm bơm tiêu Yên Nghĩa, thành phố Hà Nội. Phạm vi nghiên cứu: Gia cố bờ công trình thủy lợi bằng bê tông cốt thép dự ứng lực. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu - Tổng hợp, kế thừa các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay trong lĩnh vực thi công công trình trên nền đất yếu. - Nghiên cứu lý thuyết kết hợp đúc rút kinh nghiệm thực tế và tính toán giải quyết các bài toán thiết kế thực tế và lựa chọn công nghệ phù hợp.
- Tổng hợp tài liệu nghiên cứu đã có về công tác gia cố bờ bằng cừ bê tông cốt thép dự ứng lực, các quy trình, quy phạm tính toán thiết kế và chỉ dẫn thi công cừ bê tông cốt thép dự ứng lực. 3 - Thu thập số liệu và đúc rút kinh nghiệm từ các công trình thực tế đã và đang xây dựng tại Việt Nam để lựa chọn công nghệ phù hợp. - Thu thập các số liệu có liên quan (địa chất, địa hình, kinh tế xã hội., tài liệu thiết kế, biện pháp và máy móc thiết bị thi công.) của công trình trạm bơm tiêu Yên Nghĩa, thành phố Hà Nội. Kết quả dự kiến đạt được - Đưa ra phương pháp xây dựng bờ kênh bằng tường cừ BTCT dự ứng lực.
- Đề xuất giải pháp đề xuất giải pháp kỹ thuật đối với kênh tiêu La Khê thuộc công trình Trạm bơm tiêu Yên Nghĩa, thành phố Hà Nội. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG GIẢI PHÁP THI CÔNG BỜ KÊNH TIÊU ĐÔ THỊ 1. Bê tông cốt thép dự ứng lực Khái niệm: Bê tông cốt thép dự ứng lực hay bê tông cốt thép ứng suất trước, bê tông tiền áp, bê tông ứng lực trước là kết cấu bê tông cốt thép sử dụng sự kết hợp ứng lực căng rất cao của cốt thép ứng suất trước và sức chịu nén của bê tông để tạo nên trong kết cấu những biến dạng ngược với khi chịu tải, ở ngay trước khi chịu tải. Nhờ đó kết cấu này có khả năng chịu tải trọng lớn hơn kết cấu bê tông thông thường hoặc vượt được những nhịp hay khẩu độ lớn hơn trong kết cấu bê tông cốt thép thông thường.
Nguyên lý làm việc: Cốt thép trong bê tông là cốt thép có cường độ cao, được kéo căng ra bằng máy kéo ứng suất trước, đạt tới một ứng suất nhất định đã được thiết kế trước, nằm trong giới hạn đàn hồi của nó trước khi các kết cấu BTCT này chịu tải. Lực căng cốt thép này làm cho bê tông biến dạng ngược với biến dạng do tải trọng gây ra sau này khi kết cấu làm việc. Nhờ đó, kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước có thể chịu tải trọng lớn hơn so với kết cấu này, khi không căng cốt thép ứng suất trước. (Khi chịu tải trọng bình thường, biến dạng do tải trọng gây ra chỉ đủ để triệt tiêu biến dạng do căng trước, kết cấu trở lại hình dạng ban đầu trước khi căng, giống như không hề chịu tải gì.
Phân loại bê tông cốt thép dự ứng lực. Bê tông ứng suất căng trước (căng cốt thép trên bệ) Cốt thép ứng suất trước được kéo căng ra trước trên bệ khuôn đúc bê tông trước khi chế tạo kết cấu bê tông. Sau đó kết cấu bê tông được đúc bình thường với cốt thép ứng suất trước như kết cấu bê tông cốt thép thông thường. Đến khi bê tông đạt đến một giá trị cường độ nhất định để có thể giữ được ứng suất trước, thì tiến hành cắt cốt thép rời ra khỏi bệ căng.
Do tính đàn hồi cao của cốt thép, nó có xu hướng biến dạng co lại dọc theo trục của cốt thép. Nhờ lực bám dính giữa bê tông và cốt 5 thép ứng suất trước, biến dạng này được chuyển hóa thành biến dạng vồng ngược của kết cấu bê tông so với phương biến dạng khi kết cấu bê tông chịu tải trọng. Phương pháp này tạo kết cấu ứng suất trước nhờ lực bám dính giữa bê tông và cốt thép, và được gọi là phương pháp căng trước vì cốt thép được căng trước cả khi kết cấu bê tông được hình thành và đạt tới cường độ thiết kế. Phạm vi áp dụng: Phương pháp này, cần có một bệ căng cố định nên thích hợp cho việc chế tạo các kết cấu bê tông ứng suất trước đúc sẵn trong các nhà máy bê tông đúc sẵn.
Kết cấu bê tông ứng suất trước căng trước có ưu điểm là dùng lực bán dính trên suốt chiều dài cốt thép nên ít có rủi ro do tổn hao ứng suất trước. Bê tông ứng suất căng sau dạng không liên kết: Đây là loại kết cấu ứng suất trước được thi công căng cốt thép sau khi hình thành kết cấu nhưng trước khi chịu tải, và sử dụng phản lực đầu neo hình côn tại các đầu của cốt thép ứng suất trước để truyền áp lực ép mặt sang đầu kết cấu bê tông (gây ứng suất trước). Phương pháp này, không dùng lực bám dính giữa bê tông và cốt thép để tạo ứng suất trước, nên còn gọi là ứng suất trước căng sau không bám dính. Cốt thép được lồng trong ống bao có chứa mỡ bảo quản chống gỉ, và được đặt bình thường vào trong khuôn đúc bê tông mà chưa được căng trước.
Sau đó, đổ bê tông vào khuôn bình thường như chế tạo kết cấu bê tông cốt thép thông thường. Đến khi kết cấu bê tông cốt thép đạt cường độ nhất định đủ để chịu được ứng lực căng thì mới tiến hành căng cốt thép ứng suất trước. Cốt thép được kéo căng cốt thép dần dần bằng máy kéo ứng suất trước đến giá trị ứng suất thiết kế, nhưng vẫn nằm trong giới hạn đàn hồi của cốt thép ứng suất trước. Sau mỗi hành trình kéo thép, cốt thép lại được buông ra khỏi máy kéo, lúc đó cốt thép có xu hướng co lại vì tính đàn hồi.
Nhưng do các đầu cốt thép (một trong hai hay cả hai đầu) được giữ lại bởi neo 3 lá hình côn nằm trong hốc neo hình côn bằng thép bịt ở hai đầu kết cấu bê tông, mà biến dạng đàn hồi này của cốt thép được chuyển thành phản lực đầu neo dạng áp lực ép mặt của má côn thép truyền sang đầu kết cấu bê tông (tạo ra ứng suất trước). Nhờ đó kết cấu bê tông được uốn vồng ngược với khi làm việc. Khi đạt đến 6 ứng suất trước thiết kế thì mới cho kết cấu chịu tải trọng (cho làm việc). Cốt thép ứng suất trước có thể là dạng thanh, dạng sợi cáp hay bó cáp.
Mỗi sợi cốt thép ứng suất trước được tự do chuyển động trong lòng ống bao bằng nhựa có mỡ bôi trơn, mà không tiếp xúc với bê tông. Giữa bê tông và cốt thép không hề có lực bám dính. Phạm vi áp dụng của phương pháp này: Phương pháp này thuận lợi cho việc thi công tại hiện trường. Ứng dụng cho các kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước đổ tại chỗ.
Tuy vậy, nhược điểm của phương pháp này là chỉ dựa vào các đầu neo để giữ ứng suất trước.