CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về tín dụng khách hàng cá nhân Theo Yuping và cộng sự (2020) định nghĩa rằng: Tín dụng khách hàng cá nhân là những khoản vốn được cấp để phục vụ mua bán hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng hoặc kinh doanh của các hộ đăng ký kinh doanh cá thể. Tín dụng khách hàng cá nhân được cấp bởi các ngân hàng, tổ chức tài chính, tín dụng, các công ty thẻ tín dụng và cửa hàng thương mại.2 Khái niệm về rủi ro tín dụng Có rất nhiều khái niệm khác nhau về RRTD. Theo định nghĩa của Saunders (2014) RRTD là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể thực hiện đầy đủ cả về số lượng và thời gian. Theo Fitch (2006) định nghĩa RRTD là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ.
Cùng với rủi ro lãi suất, RRTD là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Theo Ủy ban Basel (2005) cho rằng rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả gốc hoặc lãi. Theo khoản 24, Điều 2 Thông tư 41/2016/TT-NHNN định nghĩa: RRTD là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Các định nghĩa về RRTD khá đa dạng nhưng chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản của RRTD như sau: 7 - RRTD khi người vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm tiền gốc hoặc lãi vay.
Sự thực hiện không đầy đủ có thể là trễ hạn hoặc không thanh toán. - RRTD sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá thị trường của vốn. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ hoặc ở mức cao hơn là phá sản. Mặt khác, rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định: lợi nhuận kỳ vọng càng cao thì rủi ro tiềm ẩn càng lớn.
Tuy nhiên, chúng ta hiểu RRTD theo nghĩa xác suất, có thể xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất. Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất. Một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp nhưng nguy cơ RRTD sẽ cao nếu danh mục đầu tư tín dụng tập trung vào một nhóm khách hàng, hoặc một ngành tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cách hiểu này sẽ giúp cho hoạt động quản trị RRTD được phòng ngừa một cách chủ động, trích lập dự phòng, đảm bảo bù đắp tổn thất khi xảy ra rủi ro.3 Phân loại rủi ro tín dụng 1.1 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro Theo các nhà nghiên cứu (Trần Huy Hoàng, 2010; Nguyễn Minh Kiều, 2013), QTRR bao gồm hai bộ phận rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.
Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch, đánh giá khách hàng và xét duyệt cho vay. Rủi ro giao dịch bao gồm: - Rủi ro xét duyệt: là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng. - Rủi ro đảm bảo: liên quan đến chính sách và hợp đồng cho vay như các tiêu chuẩn về bảo đảm mức tiền vay, loại tài sản bảo đảm, chủ thể bảo đảm. 8 - Rủi ro kiểm soát: liên quan đến việc theo dõi khoản vay.
Rủi ro danh mục tín dụng: là RRTD mà nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân làm hai loại: - Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. - Rủi ro tập trung cho vay: trường hợp ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng và nhóm khách hàng liên quan quá nhiều, cho vay quá nhiều khách hàng hoạt động trong cùng một vùng địa lý và ngành nghề nhất định.2 Căn cứ theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro - Rủi ro khách quan do các nguyên nhân khách quan nằm ngoài dự kiến như: thiên tai, dịch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến động làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách. - Rủi ro chủ quan do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác.3 Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng - Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: đến thời hạn thỏa thuận nhưng ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay từ khách hàng mặc dù cả 2 bên đã thỏa thuận trước đó. - Rủi ro do không có khả năng trả nợ: khách hàng đi vay mất khả năng chi trả và ngân hàng phải thanh lý tài sản đảm bảo của khách hàng để thu hồi nợ đã cho vay.
- Rủi ro tín dụng không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bao gồm các hoạt động khác mang tính chất tín dụng của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ.4 Căn cứ theo phương diện quản lý, giám sát của ngân hàng - RRTD nhận diện được: là loại RRTD mà ngân hàng có thể nhận diện được nguyên nhân gây ra rủi ro, ước tính được mức độ ảnh hưởng, dự kiến được thời gian phát 9 sinh và từ đó có biện pháp hợp lý để phòng ngừa, hạn chế rủi ro. Những rủi ro thuộc loại này thường do yếu tố chủ quan của con người gây ra cho mình, thông thường là xuất phát từ phía khách hàng. - RRTD chưa nhận điện được: là loại RRTD mà ngân hàng không thể dự đoán được, không thể biết chúng sẽ xảy ra vào thời điểm nào, cũng không thể tính toán được một cách chính xác nhất những ảnh hưởng mà chúng gây ra. Những RRTD loại này thường không do yếu tố chủ quan gây ra mà chủ yếu là do những yếu tố khách quan gây ra như: thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn.4 Nguyên nhân phát sinh RRTD 1.1 Các nguyên nhân khách quan RRTD do các nguyên nhân bất khả kháng thuộc về thiên nhiên như: thiên tai dịch hoạ, dịch bệnh, giảm giá hàng nông sản, sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng… gây ra các biến động xấu ngoài dự kiến trong mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng của mình.
RRTD do thay đổi cơ chế chính sách như: nền kinh tế có sự thay đổi về chính sách, văn bản pháp luật. Sự thiếu nhất quán trong các chính sách pháp luật cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới NHTM cũng như các doanh nghiệp có sử dụng vốn vay NHTM. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ không ổn định khi có những thay đổi trong quy định về thuế, vốn cũng như hoạt động tín dụng của ngân hàng TMCP cũng bị tác động nhiều bởi những văn bản luật về tài sản bảo đảm, dự trữ, trích lập.Như vậy, chính sách pháp luật không hoàn chỉnh sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp về khả năng trả nợ, cũng như đe dọa đến sự an toàn của NHTM trong cho vay. Hoạt động tín dụng của NHTM trong thời gian qua chịu ảnh hưởng từ việc hệ thống luật và các văn bản dưới luật liên quan đến hoạt động ngân hàng có sự chồng chéo, không rõ ràng, không hợp lý, thiếu tính chặt chẽ.
Ảnh hưởng rõ nét nhất là từ việc các chính sách về xuất nhập khẩu, các quy định về vấn đề an ninh, lương thực được thay đổi từ các văn bản pháp luật do Chính phủ ban hành. 10 RRTD do đạo đức khách hàng: là hiện tượng bên có nhiều thông tin hơn (biết chắc mình sẽ làm gì) thay đổi hành vi gây bất lợi cho bên kia. Rủi ro do nhân tố quốc tế: ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá, tín dụng trong nước có mối quan hệ chặt chẽ với tín dụng quốc tế, dễ bị ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế, chính trị quốc tế, các chính sách tài chính của các quốc gia.2 Các nguyên nhân chủ quan RRTD do ngân hàng không có chính sách cho vay rõ ràng. Chính sách cho vay của NHTM là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của ngân hàng đó.
RRTD do tính toán không chính xác hiệu quả đầu tư dự án xin vay, dẫn đến các quyết định sai lầm trong các khoản cho vay. RRTD do ngân hàng định giá khoản vay không theo mức độ rủi ro của khách hàng. RRTD do thiếu thông tin tín dụng, hoặc thông tin tín dụng không chính xác, kịp thời, dẫn đến ngân hàng không có danh sách phân loại khách hàng để có sự phân tích, đánh giá KHCN một cách khách quan, đúng đắn. RRTD do đội ngũ cán bộ yếu kém về năng lực chuyên môn, phẩm chất nghề nghiệp.
Lãnh đạo bố trí đội ngũ cán bộ thiếu đạo đức vào làm công tác thẩm định cho vay, dẫn đến tình trạng tiêu cực, mà phổ biến nhất là tình trạng cán bộ tín dụng vay ké hay nhận hối lộ tiền của khách hàng rồi thẩm định sơ sài, nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để cho vay cao, không tuân thủ quy trình tín dụng. Chính vì vậy, trong một số trường hợp, nợ xấu phát sinh là do đội ngũ CBTD yếu kém về trình độ chuyên môn, năng lực; phẩm chất nghề nghiệp, thẩm định không tốt các điều kiện vay vốn đối với khách hàng. Nếu một CBTD non kém về trình độ, thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm thì sẽ không có khả năng thẩm định và xử lý thông tin, đánh giá khách hàng thiếu chính xác, dẫn đến chất lượng tín dụng thấp, rủi ro cao.2 Quản trị RRTD tại ngân hàng thương mại 1.