CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP Comment [VX1]: Đã đổi đề mục theo hướng dẫn 1.1 Tổng quan về thuế và quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp Comment [VX2]: Đã đối đề mục theo hướng dẫn 1. Thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Thuế Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế [10] Khi Nhà nước ra đời, thuế là công cụ để Nhà nước có nguồn thu nhằm trang trải các chi tiêu của Nhà nước. Nhà nước dùng quyền lực của mình ban hành các luật thuế để bắt buộc dân cư và các đối tượng khác trong nền kinh tế đóng góp cho Nhà nước.
Và đây là hình thức huy động tài chính cho Nhà nước. Người nộp thuế sẽ phải đóng thuế theo luật định, mang tính chất bắt buộc trên nguyên tắc luật định. Nhà nước dùng quyền lực và sức mạnh để ấn định các thứ thuế, bắt buộc các tổ chức kinh tế và công dân thực hiện các nghĩa vụ thuế để nhà nước có nguồn thu ổn định, thường xuyên đảm bảo trang trải các khoản chi trong hoạt động thường xuyên của Nhà nước mà vẫn ổn định được Ngân sách Nhà nước. Nếu có tổ chức hoặc cá nhân kinh doanh nào không thực hiện đúng, đủ nghĩa vụ nộp thuế tức là họ đã vi phạm pháp luật.
Như vậy, thuế có thể hiểu theo hai nghĩa, nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Nghĩa rộng, thuế có thể được hiểu là nguồn lực chuyển giao từ khu vực tư sang khu vực công. Nghĩa hẹp, thuế là một khoản thu bắt buộc bằng tiền của Chính phủ, không có sự hoàn trả thông qua hàng hóa, dịch vụ công cộng và được thực thi bằng pháp luật. Thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của thuế.
Hiện nay ở các nước phát triển, thuế thu nhập doanh nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách Nhà nước và thực hiện phân phối thu nhập. Mức thuế cao hay thấp áp dụng cho các chủ thể thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là khác nhau, điều đó phụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập và mục tiêu đặt ra trong phân phối thu nhập của từng quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu, thu trên kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp, có nghĩa là một loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận của các doanh nghiệp. Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tất cả các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập đều phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp [11].
Tại Việt Nam, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đầu tiên được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức. Theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 do Quốc Hội nước Việt Nam ban hành ngày 03 tháng 06 năm 2008, Luật sửa đổi, bổ sung số 32/2013/QH13, tại Điều 2 quy định cụ thể các đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật này. Cũng tại Điều 3 Luật này, các quy định về thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp cũng được chi tiết, cụ thể như sau: - Thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác quy định tại khoản 2 Điều này. 6 - Thu nhập khác bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; thu nhập từ chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản; thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ; hoàn nhập các khoản dự phòng; thu khoản nợ khó đòi đã xóa nay đòi được; thu khoản nợ phải trả không xác định được chủ; khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót và các khoản thu nhập khác, kể cả thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh ở ngoài Việt Nam.[12] Về nguyên tắc, thu nhập chịu thuế là bất cứ khoản thu nhập phát sinh nào dù bằng tiền vay hay hiện vật, không phân biệt từ nguồn sản xuất kinh doanh hay hoạt động, đầu tư sau khi loại bỏ những khoản được pháp luật quy định không phải chịu thuế thu nhập.
Những khoản thu nhập được quy định không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp thông thường là những khoản thu nhập còn lại sau khi đã nộp thuế thu nhập hoặc một loại thuế tương đương ở một khâu nào đó. Những khoản thu nhập không chịu thuế thu nhập cũng có thể là những khoản thu nhập nhỏ, lặt vặt nhưng lại không thuận tiện cho công tác quản lý. Nói cách khác, thu nhập chịu thuế phải gồm hầu hết các khoản thu nhập chủ yếu phát sinh, không phân biệt hình thái và nguồn gốc của chúng. Các khái niệm về Quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp 1.
Quản lý thuế Quản lý nói chung được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra. Theo Luật quản lý thuế (năm 2007), Quản lý thuế là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Theo đó, quản lý thuế được hiểu là quá trình tổ chức, điều hành và giám sát việc thực hiện những quy định trong luật thuế nhằm huy động đầy đủ những khoản tiền thuế vào NSNN theo luật định[10]. 7 Tuy nhiên theo tác giả vấn đề QLT phải được xem xét dưới góc độ của nền kinh tế nói chung, tức là quản lý các mối quan hệ về thuế của các chủ thể bao gồm: Nhà nước (cơ quan định ra chính sách thuế), các đối tượng nộp thuế và bộ máy quản lý hành chính thuế (Quản lý hành chính thuế được hiểu là chức năng, là hoạt động quản lý của cơ quan QLT đối với các thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế và được thực hiện bằng phương pháp hành chính) Quản lý thuế là một nội dung quan trọng cuả công tác quản lý tài chính Nhà nước.
Quản lý thuế không thể tách rời quản lý Nhà nước nói chung và quản lý Nhà nước về kinh tế nói riêng.2 Quản lý thu thuế Quản lý thu thuế là một nội dung của quản lý thuế - một lĩnh vực quản lý hành chính công của nhà nước. “Quản lý thu thuế là quản lý việc thực thi và thực thi các chính sách thuế hay là việc thực hiện quyền hành pháp và tư pháp của nhà nước trong lĩnh vực thuế” “ Quản lý thu thuế là việc thực thi các luật thuế , là việc định ra các hệ thống tổ chức, phân công chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và nghĩa vụ cho các tổ chức này, xác lập mối quan hệ hữu hiệu trong thực thi luật thuế nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong môi trường luôn biến động” Theo Luật quản lý thuế, quản lý thu thuế là quá trình thực thi các chức năng quản lý từ quản lý đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; quản lý hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; quản lý xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; thanh tra, kiểm tra thuế; cưỡng chế thi hành các quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế và giải quyết khiếu nại tố cáo về thuế” 8 Từ các khái niệm trên có thể định nghĩa quản lý thu thuế là một quá trình thực thi chính sách thuế, thông qua quá trình tác động của cơ quan thuế lên các tổ chức và công dân, nhằm đảm bảo và tăng cường sự tuân thủ nghĩa vụ thuế một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian trong điều kiện môi trường quản lý thu thuế luôn biến động. Quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp Quản lý thu thuế TNDN là một nội dung cơ bản và quan trọng của công tác quản lý thu thuế. Vì vậy, về cơ bản cách hiểu về quản lý thu thuế đã nêu ở phần trên cũng là cách hiểu về quản lý thu thuế TNDN.
Tuy nhiên, quản lý thu thuế TNDN có những nét đặc thù riêng như sau: Chủ thể thực thi các giải pháp thu thuế là các cơ quan thuế từ Trung ương đến địa phương. Các cơ quan thuế được Nhà nước giao trách nhiệm chính cho việc tổ chức quản lý thu thuế. Cần phải có sự phối kết hợp giữa các ban, ngành chức năng để quản lý thu thuế một cách hiệu quả nhất. Đối tượng chịu sự quản lý là các doanh nghiệp có các hoạt động kinh tế thuộc diện điều chỉnh của Luật quản lý thuế và các luật thuế TNDN.
Quá trình tổ chức và thực thi các giải pháp thu thuế là rất phức tạp, đa dạng và phong phú. Các giải pháp đó không đơn thuần là các giải pháp hành chính, cưỡng chế mà các giải pháp đó phải kết hợp giữa mệnh lệnh hành chính, tuyên truyền giải thích, khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần. Quản lý thu thuế TNDN được quy định bằng pháp luật nên các cơ quan thuế không thể tuỳ tiện đề ra các biện pháp quản lý thu thuế trái ngược với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là thủ tiêu tính sáng tạo của từng cơ quan thuế trong việc tìm tòi các giải pháp cụ thể, miễn là các giải pháp đó không trái với những quy định chung toàn ngành và phù hợp với đặc thù sản xuất kinh doanh (SXKD) ở địa phương.
Sự cần thiết phải quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp Quản lý thu thuế nói chung và quản lý thu thuế TNDN nói riêng luôn là một yêu cầu bức thiết được đặt ra cho mỗi quốc gia. Sự cần thiết phải quản lý thu thuế TNDN là xuất phát từ những lý do cơ bản sau: 1. Do yêu cầu tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Ở hầu hết các quốc gia, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng vì là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước.