PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Nền kinh tế thị trường ở nước ta tồn tại nhiều thành phần kinh tế, trong đó có thành phần kinh tế tư nhân. Đảng và Nhà nước ta tiếp tục khẳng định quan điểm phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là một thành phần kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV vừa phát huy tính chủ động sáng tạo, vừa nâng cao năng lực quản lý, điều hành, mở rộng các mối quan hệ, liên kết với nhiều doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống người dân.
Là trung tâm kinh tế năng động nhất và phát triển của cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung nhiều nhất số lượng các DNNVV (chiếm khoảng 1/4 số lượng DNNVV trong cả nước), tỷ trọng GDP chiếm 1/3 của cả nước, giải quyết cho khoảng 70% lao động trên địa bàn thành phố, có thể nói đây là thành phần kinh tế năng động nhất và có tốc độ tăng trưởng khá nhanh so với những thành phần khác. Hiện nay, với chiến lược kinh doanh giai đoạn 2011-2015, Ngân Hàng TMCP Quân Đội (MB) đang triển khai kế hoạch phát triển tại thị trường miền Nam, đặc biệt là khu vực Tp. Trong đó, chú trọng đẩy mạnh các hoạt động tín dụng tài trợ cho doanh nghiệp trên địa bàn. Mặc dù vậy, phân khúc thị trường DNNVV vẫn chưa được khai thác hiệu quả và toàn diện.
Trong khi đó, theo đánh giá chung, lợi ích thu được từ DNNVV nói chung và thông qua hoạt động tín dụng nói riêng mang về lợi nhuận đáng kể cho các ngân hàng thương mại do một số đặc thù của loại hình doanh nghiệp này. Xác định được tầm quan trọng của DNNVV đối với nền kinh tế nói chung và MB nói riêng, từ những phân tích và đánh giá về hoạt động tín dụng đối với các DNNVV trong quá trình công tác tại MB, nhằm phục vụ phần nào trong việc triển khai chiến lược kinh doanh của MB tại Tp.HCM thời gian tới, tôi mạnh dạn nghiên cứu và thực hiện luận văn Thạc sĩ với đề tài “Giải pháp đẩy mạnh hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân Hàng Thƣơng Mại Cổ Phần Quân Đội tại Thành phố Hồ Chí Minh”. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn đi vào tìm hiểu và phản ánh tình hình hoạt động tín dụng đối với các DNNVV của MB trên địa bàn Tp.HCM, phân tích những khó khăn còn tồn tại, từ đó tìm ra nguyên nhân và đưa ra giải pháp kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động tín dụng đối với DNNVV tại MB khu vực Tp.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng mà cụ thể là hoạt động cho vay đối với các DNNVV về mặt lý luận và thực tiễn. - Phạm vi nghiên cứu và đưa ra kết luận tại NH TMCP Quân Đội khu vực Tp.HCM trong vòng 03 năm qua, giai đoạn 2010-2012 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Nội dung của luận văn được nghiên cứu theo phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp và diễn dịch. Bố cục đề tài Nội dung luận văn bao gồm 03 chương: Chƣơng 1: Tổng quan về tín dụng ngân hàng đối với DNNVV của ngân hàng thương mại.
Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với các DNNVV tại NH TMCP Quân Đội trên địa bàn Tp. Chƣơng 3: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động tín dụng đối với các DNNVV của NH TMCP Quân Đội tại Tp.HCM TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó các ngân hàng, các tổ chức tín dụng vừa là bên đi vay vừa là bên cho vay.
Bên cho vay chuyển giao tạm thời quyền sử dụng tài sản cho bên đi vay trong thời gian thỏa thuận, bên đi vay có nghĩa vụ hoàn trả lại vô điều kiện đầy đủ vốn và lãi cho bên cho vay khi đến thời hạn thanh toán. Theo Khoản 14 và 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12: - Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. - Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Như vậy, nếu xem xét tín dụng ngân hàng như một quá trình, có thể phát biểu tín dụng ngân hàng là sự vận động của giá trị vốn lần lượt qua ba giai đoạn gồm: Giai đoạn cho vay, giai đoạn sử dụng vốn và giai đoạn hoàn trả 1.
Bản chất của tín dụng ngân hàng Sự xuất hiện và tồn tại của tín dụng gắn liền với sự xuất hiện và tồn tại của nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ. Trong nền kinh tế hàng hóa tiền tệ tồn tại một hiện tượng dư thừa tạm thời của một số chủ thể có trong tay những khoản vốn chưa sử dụng; đồng thời cũng tại thời điểm này, lại có những chủ thể đang ở trạng thái ngược lại - họ đang bị thiếu vốn, đang có nhu cầu cần được bổ sung vốn tiền tệ. Đây chính là một mâu thuẫn rất thường xuyên, phổ biến và không thể không được giải quyết. Xét về bản chất kinh tế, ẩn sau mâu thuẫn trên chính là sự phản ánh hiện tượng ách tắc của dòng chu chuyển vốn tiền tệ trong nền kinh tế.
Về nguyên lý chung, có TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 thể giải quyết mâu thuẫn trên bằng hai công cụ chính: Thông qua công cụ tài chính (cấp phát của ngân sách nhà nước) và công cụ tín dụng. Về công cụ tài chính: sử dụng công cụ tài chính thông qua việc dùng nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp phát là không phù hợp với hai lý do cơ bản sau: - Thứ nhất, phương pháp ngân sách dựa trên nguyên tắc không hoàn lại. Trong khi thực chất những nhu cầu vốn tiền tệ này chỉ là nhu cầu tạm thời. - Thứ hai, nếu các chủ thể trong quan hệ này là khu vực ngoài quốc doanh thì hành vi này chính là việc lấy tài sản công để cấp phát cho các đối tượng tư nhân.
Về công cụ tín dụng: dựa trên nguyên lý cơ bản là ứng vốn có hoàn trả. Khi một chủ thể lâm vào tình trạng tạm thời thiếu vốn, họ sẽ được đáp ứng nhu cầu bằng khoản cho vay của chủ thể có vốn. Ngược lại một chủ thể ở trạng thái tạm thời thừa vốn, họ có thể tìm kiếm được một khoản lợi nhuận nhất định từ hành vi chuyển giao tạm thời quyền sử dụng số vốn nhàn rỗi đó cho chủ thể khác. Như vậy, thông qua công cụ này mâu thuẫn giữa tạm thời thừa và thiếu vốn trong nền kinh tế xã hội được giải quyết một cách hợp lý, dòng chảy vốn tiền tệ đã được khơi thông, đáp ứng nhu cầu của các chủ thể có liên quan.
Sự xuất hiện của các tổ chức tín dụng làm trung gian tài chính trong nền kinh tế đã làm cho các dòng chảy vốn ngày càng mạnh mẽ, giải quyết mọi nhu cầu của các chủ thể thừa vốn và thiếu vốn. Các hình thức cấp tín dụng ngân hàng Theo hình thức cấp tiền vay - Thấu chi - Cho vay trực tiếp từng lần - Cho vay theo hạn mức tín dụng - Cho vay luân chuyển - Cho vay trả góp - Cho vay khác Theo thời hạn cho vay : Bao gồm cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Theo Tài sản đảm bảo: Cho vay có tài sản đảm bảo và cho vay không có tài sản đảm bảo. Theo mục đích sử dụng vốn: Cho vay sản xuất và lưu thông hàng hóa và cho vay tiêu dùng Theo đối tượng cho vay Phân loại theo tiêu chí này thì có 2 loại hình cho vay là cho vay khách hàng cá nhân và cho vay khách hàng doanh nghiệp.
Theo đó, cho vay Khách hàng doanh nghiệp có thể chia nhỏ hơn: - Phân theo thành phần kinh tế: cho vay doanh nghiệp quốc doanh và cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh. - Phân theo quy mô doanh nghiệp: cho vay doanh nghiệp lớn và cho vay DNNVV. Vai trò của tín dụng ngân hàng Đối với các NHTM, cho vay là hoạt động mang lại thu nhập chính cho ngân hàng, dùng chi trả các khoản lãi tiền gửi và các khoản chi phí quản lý, trang thiết bị, tiền lương và các khoản chi phí khác để duy trì hoạt động của ngân hàng. Đối với khách hàng của NHTM, cho vay là hoạt động cơ bản kết nối những nguồn vốn nhàn rỗi với những người thực sự có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế.
Đối với nền kinh tế, vai trò của tín dụng ngân hàng thể hiện như sau: Thứ nhất, NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế: Bằng nguồn vốn huy động được trong xã hội thông qua hoạt động tín dụng, NHTM đã cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình sản xuất. Thứ hai, NHTM là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường: sự phát triển của tín dụng ngân hàng đã làm biến đổi hoạt động trong các nhà máy, xí nghiệp khơi dậy sức sống bằng các dây chuyền sản xuất hiện đại năng suất cao, thực hiện chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến, đào tạo đội ngũ lao động phù hợp với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật - công nghệ cao.