Chương 1: Cơ sở lý luận chung về vốn tự có của các NHTM. Chương 2: Thực trạng và những chuyển biến của hệ thống NHTMCP VN sau khi tăng vốn tự có. Chương 3: Giải pháp tăng vốn tự có tại các NHTMCP VN. -5 CHƯƠ NG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN TỰ CÓ CỦA NGÂN HÀNG 1.
Những vấn đề cơ bản về vốn tự có của ngân hàng: 1.1 Khái niệm về vốn tự có: Vốn tự có là một cấu thành rất quan trọng trong nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng, là một trong những điều kiện cần thiết để phát triển quy mô hoạt động của ngân hàng, là cơ sở để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng theo quy định của quốc gia và theo thông lệ quốc tế. Quy mô vốn tự có của ngân hàng cũng là một trong những tiêu chí để đánh giá năng lực tài chính của một ngân hàng mạnh hay yếu. Các ngân hàng muốn phát triển quy mô tài sản thì phải dựa trên nền tảng của sự phát triển vốn tự có, ngược lại, phát triển vốn tự có sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng phát triển quy mô tài sản góp phần gia tăng lợi nhuận nhưng vẫn đảm bảo an toàn vốn. Điều này cho thấy sự tăng trưởng vốn điều lệ của ngân hàng đóng một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng và chính vì ý nghĩa đó mà chỉ tiêu “vốn tự có” luôn được sự quan tâm đặc biệt của nhà quản trị ngân hàng trong các mục tiêu chiến lược, kế hoạch thực hiện.
Các cơ quan chức năng cũng có những cơ chế, chính sách giám sát năng lực tài chính của ngân hàng trong đó sự giám sát tăng vốn tự có để đảm bảo an toàn hệ thống tài chính, giảm thiểu rủi ro hệ thống, rủi ro dây chuyền đối với cả một hệ thống ngân hàng. Về khái niệm vốn tự có của NHTM, theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, vốn tự có gồm giá trị thực của vốn điều lệ của tổ chức tín dụng hoặc vốn được cấp của chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các quỹ dự trữ, một số tài sản 1 nợ khác theo quy định của NHNN. Theo 13/2010/TT-NHNN, vốn tự có được xác định bằng tổng vốn cấp một và 1 Khoản 10, Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011. -6 2 vốn cấp hai, trừ đi các khoản phải trừ.1: Mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng.
3 Mức vốn pháp định áp STT Loại hình tổ chức tín dụng dụng cho đến năm I Ngân hàng 2011 1 NHTM A NHTM Nhà nước 3.000 tỷ đồng B NHTM Cổ phần 3.000 tỷ đồng C Ngân hàng liên doanh 3.000 tỷ đồng D Ngân hàng 100% vốn nước ngoài 3.000 tỷ đồng Đ Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài 15 triệu USD 2 Ngân hàng chính sách 5.000 tỷ đồng 3 Ngân hàng đầu tư 3.000 tỷ đồng 4 Ngân hàng phát triển 5.000 tỷ đồng 5 Ngân hàng hợp tác 3.000 tỷ đồng 6 Quỹ tín dụng nhân dân A Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương 3.000 tỷ đồng B Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở 0,1 tỷ đồng II TCTD phi ngân hàng 1 Công ty tài chính 500 tỷ đồng 2 Công ty cho thuê tài chính 150 tỷ đồng 1.2 Đặc điểm của vốn tự có: Trong thời gian đầu hoạt động, vốn tự có là cơ sở để tạo nên nguồn lực tài chính của NHTM. Vốn tự có được sử dụng cho mục đích đầu tư vào tài sản cố định, 2 Khoản 1, Điều 5, Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010 quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, có hiệu lực từ ngày 01/10/2010. 3 Theo Nghị định số 10/2011/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 141/2006/NĐ-CP về Danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng. -7 đầu tư dài hạn và ngắn hạn để sinh lời.
Là nguồn vốn ổn định và luôn tăng trưởng trong quá trình hoạt động của ngân hàng, đồng thời vốn tự có luôn vận động và tham gia vào quá trình kinh doanh của ngân hàng. Mọi quyết định tăng thêm vốn luôn gắn liền với yêu cầu phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới, mở rộng hoạt động của ngân hàng. Mặc dù chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh (thông thường từ 8% đến 10%) nhưng vốn tự có đóng vai trò vô cùng quan trọng vì nó là cơ sở để hình thành nên các nguồn vốn khác. Giá trị của vốn tự có gắn liền với uy tín, năng lực, vị thế của chủ sở hữu vốn và quan hệ cung cầu vốn trên thị trường.
Vốn tự có quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng như các giới hạn huy động vốn, giới hạn cho vay và bảo lãnh, góp vốn, mua cổ phần, mạng lưới chi nhánh… Ngoài ra nó còn là yếu tố để các cơ quan quản lý dựa vào để xác định các tỉ lệ an toàn trong kinh doanh ngân hàng vì hoạt động của các NHTM phải chịu sự chi phối của các quy định pháp luật dựa trên căn cứ là quy mô vốn tự có. Ngoài ra, vốn tự có được hình thành từ những nguồn vốn hợp pháp được phép lưu chuyển trên thị trường tài chính. Trong điều kiện hội nhập của nền kinh tế, vốn tự có của ngân hàng sẽ mang tính quốc tế gắn liền với môi trường cạnh tranh cao khi mà các NHTM đang mở rộng việc thu hút đầu tư thông qua thị trường tài chính bằng các công cụ tài chính đa dạng.3 Các chức năng cơ bản của vốn tự có: 1.1 Chức năng bảo vệ: Với chức năng bảo vệ, vốn tự có là lá chắn chống đỡ, bù đắp những tổn thất trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Các ngân hàng phải có đủ vốn tự có để đảm bảo được khả năng thanh toán trong mọi trường hợp đồng thời còn phải cung cấp được một khoản vốn dự trữ đủ để duy trì được khả năng trả nợ tránh mọi sự đe dọa do thua lỗ.
Trong hoạt đông kinh doanh có rất nhiều rủi ro, những rủi ro này khi xảy ra sẽ gây ra những thiệt hại lớn cho ngân hàng, đôi khi nó có thể dẫn ngân hàng đến chỗ phá -8 sản. Khi đó vốn tự có sẽ giúp ngân hàng hấp thụ thua lỗ và đảm bảo cho ngân hàng tránh khỏi nguy cơ trên. Đây cũng chính là lý do khiến cho NHNN rất quan tâm trong việc đưa ra những quy định giám sát chặt chẽ vốn tự có của các NHTM. Thông qua vốn tự có, NHTM phải thể hiện được trách nhiệm về tài sản của người kinh doanh đối với những khoản tiền gửi nhằm tạo ra sự tin cậy và an tâm cho khách hàng.
Điều này thể hiện ở chỗ, hệ số vốn tự có đối với các khoản mục trong bảng tổng kết tài sản được ngụ ý như là mức độ mà ở đó khi ngân hàng bị thiệt hại, dưới hình thức này hay hình thức khác, mà vẫn đủ vốn để đảm bảo sự an toàn vốn của người ký thác. Bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền thực chất là bảo vệ sự an toàn cho chính ngân hàng vì kinh doanh ngân hàng là lĩnh vực hoạt động có tính nhạy cảm cao, thường xuyên gắn liền với các rủi ro.2 Chức năng hoạt động: Vốn tự có có không chỉ được dùng làm lá chắn và đệm an toàn mà còn được dùng để đầu tư đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trước hết, vốn tự có tham gia vào việc hình thành nên tài sản cố định cho các ngân hàng hoạt động. Tài sản cố định là điều kiện về vật chất và công nghệ có ý nghĩa quyết định đến quy mô của một ngân hàng.
Khả năng gia tăng và hiện đại hóa tài sản cố định tùy thuộc vào quy mô của vốn tự có và chiến lược của các nhà quản trị ngân hàng. Tuy nhiên, theo Luật các TCTD VN, các NHTM chỉ được phép mua, đầu tư vào tài sản cố định không quá 50% vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung 4 vốn điều lệ. Vốn cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển của các hình thức dịch vụ mới, cho những chương trình và trang thiết bị mới. Khi một ngân hàng phát triển, nó cần vốn bổ sung để thúc đẩy tăng trưởng và chấp nhận rủi ro gắn với sự ra đời những dịch vụ mới và những trang thiết bị mới.
Hầu hết các ngân hàng đều mở rộng và phát triển cơ sở vật chất so với lúc đầu và sự bổ sung vốn sẽ cho phép 4 Điều 160, Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011. -9 ngân hàng mở rộng trụ sở, xây dựng thêm những văn phòng chi nhánh để theo kịp với sự phát triển của thị trường và tăng cường chất lượng phục vụ khách hàng. Ngoài ra, vốn tự có còn được sử dụng vào việc đầu tư các tài sản ngắn hạn và dài hạn như để cho vay, hùn vốn hoặc đầu tư chứng khoán nhằm mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Tuy nhiên, do vốn tự có chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh nên lợi nhuận mà nó mang lại cũng không cao.
Vì vậy chức năng hoạt đông ở đây cũng chỉ là thứ yếu.3 Chức năng điều chỉnh: Với chức năng điều chỉnh, vốn tự có xác lập các giới hạn cho hoạt động kinh doanh ngân hàng nhằm đảm bảo tính an toàn của hệ thống. Vốn tự có hạn chế bản chất liều lĩnh của giới ngân hàng bằng cách tăng phần đóng góp của họ. Rõ ràng trước khủng hoảng tài chính, một số ngân hàng đã có quá ít vốn, ví như Royal Bank of Scotland cần gói giải cứu khổng lồ không phải vì thua lỗ của ngân hàng này quá lớn mà vì vào đầu khủng hoảng “tấm đệm vốn” của họ quá mỏng, chỉ 3,5%. Cả các cơ quan quản lý ngân hàng và thị trường tài chính đều đòi hỏi rằng vốn ngân hàng cần phải được phát triển tương ứng với sự tăng trưởng của danh mục cho vay và của những tài sản rủi ro khác.