CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VỐN TỰ CÓ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về vốn tự có của các ngân hàng thương mại. Quá trình nghiên cứu cho thấy, khái niệm VTC và Vốn chủ sở hữu (VCSH) thường đi kèm với nhau, đôi khi được đồng nhất. Tuy nhiên, theo Peter S.Rose thuật ngữ “VCSH” có một ý nghĩa đặt biệt đối với Ngân hàng, đây là nguồn tiền được đóng góp bởi những người chủ Ngân hàng.
VCSH bao gồm chủ yếu là cổ phiếu, các khoản dự trữ và lợi nhuận không chia [15, tr557]. Còn khái niệm VTC sẽ rộng hơn khái niệm VCSH ở chỗ, khi nói đến VTC thì người ta hàm ý trong đó cả phần vốn chủ sở hữu và các loại vốn khác có thể xem là nguồn VTC như các Quỹ dự trữ khác, trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu dài hạn,…. Cơ sở để xem xét này thường dựa vào đánh giá mức độ an toàn của nguồn vốn đó với hoạt động ngân hàng. Vì vậy, trong luận văn này, khái niệm VTC và VCSH sẽ được tách biệt theo các hiểu nêu vừa nêu trên.
Khái niệm vốn tự có. VTC là một khái niệm rộng, tùy góc độ mà người ta có thể đưa ra những định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung đều thống nhất rằng đây là nguồn vốn ổn định, an toàn trong một doanh nghiệp. Định nghĩa này được áp dụng cho tất cả loại hình doanh nghiệp, kể cả ngân hàng. Tuy nhiên, do tính chất đặc trưng của ngành ngân hàng nên người ta còn đưa ra một số khái niệm khác về VTC để có thể kiểm soát hoạt động của ngân hàng.
Về khía cạnh kế toán: VTC của một ngân hàng tại thời điểm nhất định là hiệu số giữa giá trị ghi sổ của tài sản có và giá trị ghi sổ của tài sản nợ của ngân hàng tại thời điểm đó. Thông qua các số liệu kế toán, người ta xây dựng các chỉ tiêu tương quan giữa VTC với các số liệu tài chính để có thể đánh giá hợp lý vốn của ngân hàng. Về khía cạnh kinh tế: VTC là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp và vốn được tạo ra trong quá trình kinh doanh, dưới hình thức lợi nhuận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 giữ lại và các hình thức sở hữu khác. Theo quan điểm này, VTC là cơ sở để ngân hàng chủ động định hướng các chính sách phân phối tài chính, thực hiện chiến lược thu hút vốn, mở rộng hợp tác, phát triển kinh doanh.
Về khía cạnh pháp lý: VTC của ngân hàng là điều kiện căn bản để ngân hàng được thành lập và là yếu tố chủ yếu để đảm bảo trách nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng, tạo niềm tin cho khách hàng về trách nhiệm kinh tế của ngân hàng đồng thời đảm bảo an toàn cho hoạt động của toàn hệ thống. Về khía cạnh quản lý quản trị: dưới quan điểm quan trị, VTC của ngân hàng được phân thành 2 loại: vốn cấp 1 và vốn cấp 2. Cách phân biệt theo cấu trúc vốn làm tăng tính linh hoạt động quản lý, cho phép ngân hàng dễ dàng tìm kiếm thêm các nguồn vốn mới với chi phí hợp lý hơn. Vận dụng quan điểm này, ban quản trị ngân hàng có thể xây dựng chính sách quản lý vốn hợp lý hơn, góp phần nâng cao chất lượng tổng nguồn vốn, gia tăng khả năng cạnh tranh, đáp ứng các mục tiêu đề ra.
Về khía cạnh quản lý Nhà nước: Ở Việt Nam, theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2010, VTC gồm giá trị thực của vốn điều lệ của tổ chức tín dụng hoặc vốn được cấp của chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các quỹ dự trữ, một số tài sản nợ khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngoài ra, VTC còn là căn cứ để tính toán các tỷ lệ đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng. Như vậy, tùy theo mục đích mà người ta sẽ có quan niệm khác nhau về VTC nhưng tất cả đều thống nhất rằng VTC phải bao gồm trong đó vốn chủ sở hữu, lợi nhuận giữ lại và các phần vốn đảm bảo được tính ổn định, lâu dài. Theo quá trình phát triển, người ta mở rộng khái niệm này thông qua việc hình thành các phương pháp kỹ thuật xác định VTC dựa vào quy chế hoạt động đặc thù của ngành ngân hàng nhằm đảm bảo hệ số hoạt động an toàn.
Trên cơ sở này, luận văn sẽ nghiên cứu VTC theo quan điểm giá trị để có thể xây dựng được những kế hoạch kinh doanh tốt hơn thông qua việc phân chia cụ thể cấu trúc vốn. Đặc điểm vốn tự có. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Trong thời gian đầu hoạt động, VTC là cơ sở để tạo nên nguồn lực tài chính của NHTM. Vốn tự có được sử dụng cho mục đích đầu tư vào tài sản cố định, đầu tư dài hạn và ngắn hạn để sinh lời.
Là nguồn vốn ổn định và thường tăng trưởng trong quá trình hoạt động đồng thời vốn tự có luôn tham gia vận động và tham gia vào quá trình kinh doanh của ngân hàng. Mọi quyết định tăng thêm vốn luôn gắn liền với yêu cầu phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới, mở rộng hoạt động của ngân hàng. Mặc dù chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn (từ 10 – 15%) nhưng VTC đóng một vai trò vô cùng quan trọng vì nó là cơ sở để hình thành nên các nguồn vốn khác. Giá trị của VTC gắn liền với uy tín, năng lực, vị thế của chủ sở hữu vốn và quan hệ cung cầu vốn trên thị trường.
VTC quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng như các giới hạn huy động vốn, giới hạn cho vay và bảo lãnh,… vì hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM) phải chịu sự chi phối của các quy định pháp luật dựa trên căn cứ là quy mô vốn tự có. Ngoài ra, VTC được hình thành từ những nguồn vốn hợp pháp được phép lưu chuyển trên thị trường tài chính. Trong điều kiện hội nhập của nền kinh tế, VTC của ngân hàng sẽ mang tính quốc tế gắn liền với môi trường cạnh tranh cao khi mà các NHTM đang mở rộng việc thu hút đầu tư thông qua thị trường tài chính bằng các công cụ tài chính đa dạng. Chức năng vốn tự có 1.
Chức năng bảo vệ: Với chức năng bảo vệ, vốn tự có là lá chắn chống đỡ, bù đắp những tổn thất trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Các ngân hàng phải có đủ VTC để đảm bảo được khả năng thanh toán trong mọi trường hợp đồng thời còn phải cung cấp được một khoản vốn dự trữ đủ để duy trì được khả năng trả nợ tránh mọi sự đe dọa do thua lỗ. Đây cũng chính là lý do khiến cho NHNN rất quan tâm trong việc đưa ra những quy định giám sát chặt chẽ VTC của các NHTM. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Bên cạnh đó, VTC còn làm chức năng chịu trách nhiệm về tài sản đối với người gửi tiền.
Thông qua VTC, NHTM phải thể hiện được trách nhiệm về tài sản của người kinh doanh đối với những khoản tiền gửi nhằm tạo ra sự tin cậy và an tâm cho khách hàng. Điều này thể hiện ở chỗ, hệ số VTC đối với các khoản mục trong bảng tổng kết tài sản được ngụ ý như là mức độ mà ở đó khi các ngân hàng bị thiệt hại, dưới hình thức này hay hình thức khác, mà vẫn đủ vốn để đảm bảo sự an toàn vốn của người ký thác. Bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền thực chất là bảo vệ sự an toàn cho chính ngân hàng vì kinh doanh ngân hàng là lĩnh vực hoạt động có tính nhạy cảm cao, thường xuyên gắn liền với các rủi ro. Chức năng hoạt động VTC không chỉ được dùng làm lá chắn và đệm an toàn mà còn được dùng để đầu tư đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Trước hết, VTC tham gia vào việc hình thành nên tài sản cố định cho các ngân hàng hoạt động. Tài sản cố định là điều kiện về vật chất và công nghệ có ý nghĩa quyết định đến quy mô hoạt động của một ngân hàng. Khả năng gia tăng và hiện đại hóa tài sản cố định tuỳ thuộc vào quy mô của VTC và chiến lược của các nhà quản trị ngân hàng. Vốn cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển của các hình thức dịch vụ mới, cho những chương trình và trang thiết bị mới.
Khi một ngân hàng phát triển, nó cần vốn bổ sung để thúc đẩy tăng trưởng và chấp nhận rủi ro gắn với sự ra đời những dịch vụ mới và những trang thiết bị mới. Hầu hết các ngân hàng đều mở rộng và phát triển cơ sở vật chất so với lúc đầu và sự bổ sung vốn sẽ cho phép ngân hàng mở rộng trụ sở, xây dựng thêm những văn phòng chi nhánh để theo kịp với sự phát triển của thị trường và tăng cường chất lượng phục vụ khách hàng. Ngoài ra, khi sử dụng VTC vào việc đầu tư các tài sản ngắn hạn và dài hạn như đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ,… là để đem lại lợi nhuận cho ngân hàng cũng đồng thời nhằm duy trì mức vốn khả dụng cho ngân hàng. Chức năng điều chỉnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Với chức năng điều chỉnh, VTC xác lập các giới hạn cho hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Cả cơ quan quản lý ngân hàng và thị trường tài chính đều đòi hỏi rằng vốn ngân hàng cần phải được phát triển tương ứng với sự tăng trưởng của danh mục cho vay và những tài sản rủi ro khác. Khi thành lập chi nhánh mới hoặc triển khai các hoạt động kinh doanh mới, quyết định đầu tư, cho vay, mua sắm tài sản, hay khi quyết định mua lại, sáp nhập,… để có đủ khả năng thực hiện các quyết định trên và có đủ cơ sở pháp lý để được cấp giấy phép kinh doanh thì vốn tự có của ngân hàng cũng phải được xác định lại sao cho tương ứng với các yêu cầu thực tế có thể phát sinh. Các cơ quan quản lý, giám sát ngân hàng sử dụng các quy định về tỷ lệ giới hạn VTC như một công cụ vĩ mô để điều tiết các hoạt động của cán NHTM. Các giới hạn này được luật hóa bằng các tiêu chuẩn pháp lý cụ thể với hàng loạt các quy định ràng buộc có liên quan, dựa trên cơ sở phân loại mức độ rủi ro của các tài sản đầu tư, mức độ khó khăn, sự khác biệt giữa các ngân hàng,….
Thành phần vốn tự có: 1. Hiệp ước BASEL về an toàn vốn 1.