CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG THỦY LỢI 1.1 Chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng 1.1 Chất lượng sản phẩm Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường xuyên tiếp cận và nói nhiều các thuật ngữ “chất lượng”, “chất lượng sản phẩm”, “chất lượng cao”. Mỗi quan niệm đều có những căn cứ khoa học và thực tiễn khác nhau nhằm thúc đẩy khoa học quản lý chất lượng không ngừng phát triển và hoàn thiện. Để hiểu rõ khái niệm chất lượng sản phẩm trước tiên ta phải làm rõ khái niệm “chất lượng”, có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng do các nhà nghiên cứu tiếp cận dưới những góc độ khác nhau. Theo tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu (EOQC) thì “Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng”.
Theo tiêu chuẩn của Australia (AS1057-1985) thì “Chất lượng là sự phù hợp với mục đích”. Từ khi tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO đưa ra định nghĩa ISO 9000 - 1994 (TCVN 5814 - 1994) thì các cuộc tranh cãi lắng xuống và nhiều nước chấp nhận định nghĩa này: “Chất lượng là một tập hợp các tính chất và đặc trưng của sản phẩm tạo ra cho nó khả năng thoả mãn nhu cầu đã được nêu ra hoặc còn tiềm ẩn”. Qua các định nghĩa trên ta có thể nêu ra 3 điểm cơ bản về chất lượng sản phẩm hàng hoá sau đây: + Chất lượng sản phẩm là một tập hợp các chỉ tiêu, các đặc trưng thể hiện tính năng kỹ thuật nói lên tính hữu ích của sản phẩm. + Chất lượng sản phẩm phải được gắn liền với điều kiện cụ thể của nhu cầu, của thị trường về các mặt kinh tế, kỹ thuật, xã hội và phong tục.
+ Chất lượng sản phẩm phải được sử dụng trong tiêu dùng và cần xem xét sản phẩm thoả mãn tới mức nào của người tiêu dùng.2 Quản lý chất lượng Nếu mục đích cuối cùng của chất lượng là thoả mãn nhu cầu khách hàng, nhu cầu người tiêu dùng thì quản lý chất lượng là tổng thể các biện pháp kinh tế kỹ thuật hành chính tác động lên toàn bộ quá trình hoạt động của mọi tổ chức để đạt được mục đích đó với chi phí xã hội thấp nhất.2 Công trình xây dựng và quản lý chất lượng công trình xây dựng 1.1 Công trình xây dựng Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả của sự tác động của hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này. QLCLXD là một khía cạnh của chức năng quản lý và thực hiện chính sách chất lượng.
Hoạt động quản lý chất lượng trong lĩnh vực xây dựng được gọi là quản lý chất lượng xây dựng. Hiện nay đang tồn tại các quan điểm khác nhau về quản lý chất lượng xây dựng (QLCLXD): + Theo GOST 15467-70: QLCLXD là đảm bảo và duy trì mức chất lượng tất yếu của sản phẩm xây dựng khi quy hoạch, thiết kế, thi công, vận hành khai thác. Điều này được thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng có hệ thống, cũng như tác động tới các nhân tố chất lượng, chi phí.Robertson, một chuyên gia người Anh về chất lượng cho rằng: QLCLXD được xác định như là một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình và sự phối hợp của những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường CLXD 5 trong các tổ chức quản lý, quy hoạch, thiết kế, thi công, vận hành khai thác. sao cho đảm bảo có hiệu quả nhất, thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu của người tiêu dùng.
+ Theo các tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS) xác định: QLCLXD là hệ thống các phương pháp tạo nên sản phẩm xây dựng có chất lượng cao thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng. + Theo giáo sư, tiến sĩ Kaoru Ishikawa, một chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực quản lý chất lượng của Nhật Bản đưa ra định nghĩa quản lý chất lượng có nghĩa là: nghiên cứu triển khai, thiết kế, thi công và bảo trì công trình có chất lượng, kinh tế nhất, thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. + Theo Philip Crosby, một chuyên gia người Mỹ về chất lượng định nghĩa quản lý chất lượng: là một phương tiện có tính chất hệ thống đảm bảo việc triển khai tất cả các thành phần của một kế hoạch chất lượng. + Theo tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO 9000 cho rằng: QLCLXD là một hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích đề ra chính sách, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng.1 Mô hình hóa khái niệm quản lý chất lượng QLCL: Quản lý chất lượng CSCL: Chính sách chất lượng HTCL: Hệ thống chất lượng 6 KSCL: Kiểm soát chất lượng ĐBCLT: Đảm bảo chất lượng bên trong ĐBCLN: Đảm bảo chất lượng bên ngoài Như vậy, tuy còn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về QLCLXD, song nhìn chung chúng có những điểm giống nhau như: + Mục tiêu trực tiếp của quản lý chất lượng là đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng phù hợp với nhu cầu thị trường với chi phí hợp lí.
+ Thực chất của quản lý chất lượng là tổng hợp các hoạt động của chức năng quản lý như: hoạch định, tổ chức, kiểm soát và điều chỉnh. Nói cách khác, quản lý chất lượng gắn liền với chất lượng của quản lý. + Quản lý chất lượng là hệ thống các hoạt động, các biện pháp (hành chính, tổ chức, kinh tế, kỹ thuật, xã hội). Quản lý chất lượng là nhiệm vụ của tất cả mọi người, mọi thành viên trong xã hội, trong doanh nghiệp, là trách nhiệm của tất cả các cấp.3 Vai trò và ý nghĩa của quản lý chất lượng công trình xây dựng 1.1 Vai trò của quản lý chất lượng công trình xây dựng Quản lý chất lượng công trình xây dựng có vai trò hết sức to lớn thể hiện cụ thể ở các mặt sau: + Đối với nền kinh tế xã hội: quản lý chất lượng xây dựng hiệu quả giúp tiết kiệm nguồn lực, tăng năng suất xây dựng, nâng cao uy tín đất nước; + Đối với người tiêu dùng: thoả mãn được yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.
Nâng cao chất lượng cuộc sống người tiêu dùng. + Đối với doanh nghiệp: Giúp doanh nghiệp cạnh tranh hơn, tồn tại và phát triển.2 Ý nghĩa của quản lý chất lượng công trình xây dựng Công tác quản lý chất lượng được thực hiện tốt đảm bảo công trình được thực hiện theo quy hoạch xây dựng, tiết kiệm chi phí trong quá trình khảo sát, thi công xây dựng. Đẩy nhanh tiến độ thi công công trình xây dựng, sớm đưa vào khai thác vận hành. Chất lượng công trình được nâng cao, kéo dài thời gian sử dụng mang lại hiệu quả cao.4 Tình hình quản lý chất lượng công trình thuỷ lợi hiện nay Công trình xây dựng là một sản phẩm hàng hóa đặc biệt phục vụ cho sản xuất và các yêu cầu của đời sống con người.
Hàng năm vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, của doanh nghiệp, của người dân dành cho xây dựng là rất lớn. Theo Tổng cục thống kê về cơ cấu nền kinh tế năm 2019, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỉ trọng 13,96% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,49% GDP; khu vực dịch vụ chiếm 41,64% GDP; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,91% GDP (cơ cấu tương ứng của năm 2018 là: 14,68%; 34,23%; 41,12%; 9,97%). Vì vậy, chất lượng công trình xây dựng (CLCTXD) là vấn đề cần được hết sức quan tâm, nó có tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế, đời sống của con người. [2] Trong thời gian qua, công tác QLCLCTXD - yếu tố quan trọng quyết định đến CLCTXD đã có nhiều tiến bộ.
Với sự tăng nhanh về số lượng và trình độ được nâng cao của đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ công nhân các ngành nghề xây dựng, với việc sử dụng vật liệu mới có chất lượng cao, việc đầu tư thiết bị thi công hiện đại, sự hợp tác học tập kinh nghiệm của các nước có nền công nghiệp xây dựng phát triển cùng với việc ban hành các chính sách, các văn bản pháp quy tăng cường công tác QLCLCTXD, chúng ta đã xây dựng được nhiều công trình thủy lợi góp phần quan trọng vào hiệu quả của nền kinh tế quốc dân, xây dựng nhiều công trình thuỷ lợi thiết thực phục vụ và nâng cao đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những công trình đạt chất lượng, cũng còn không ít công trình có chất lượng kém, không đáp ứng được yêu cầu sử dụng, công trình nứt, vỡ, lún sụt, thấm dột, bong dộp đưa vào sử dụng trong thời gian ngắn đã hư hỏng gây tốn kém, phải sửa chữa, phá đi làm lại. Đã thế, nhiều công trình không tiến hành bảo trì hoặc bảo trì không đúng định kỳ làm giảm tuổi thọ công trình. Cá biệt ở một số công trình gây sự cố làm thiệt hại rất lớn đến tiền của và tính mạng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư.1 Quản lý nhà nước về CLCTXD CLCTXD là vấn đề hết sức quan trọng, nó có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế, đời sống của con người và sự phát triển bền vững.
Đặc biệt ở nước ta vốn đầu tư từ 8 NSNN, DN và nhân dân chiếm tỷ trọng rất lớn trong thu nhập quốc dân, cả nước là một công trình xây dựng. Vì vậy, để tăng cường quản lý dự án (QLDA), CLCTXD, các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương đã: + Ban hành các văn bản pháp quy như Luật, Nghị định, Thông tư, các tiêu chuẩn, quy phạm xây dựng nhằm tạo ra môi trường pháp lý cho việc tổ chức thực hiện QLCLCTXD.