CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TĂNG CƯỜNG CHO VAY XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CHO VAY XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của cho vay xuất nhập khẩu của NHTM a. Khái niệm cho vay xuất nhập khẩu của NHTM Theo điều 4, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 ngày 16/6/2010 đã định nghĩa hoạt động cho vay như sau: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Từ đó, hoạt động cho vay xuất nhập khẩu được định nghĩa là việc NHTM cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu vay để các doanh nghiệp này hoàn thành nghĩa vụ của mình khi tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu. Các nguyên tắc cho vay - Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. - Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp. - Có khả năng tài chính bảo đảm trả nợ đầy đủ và đúng thời hạn cam kết.
- Vay phải có bảo đảm: b. Đặc điểm cho vay xuất nhập khẩu của NHTM - Hoạt động cho vay xuất nhập khẩu là hình thức cho vay mang lại hiệu quả cao cho ngân hàng do giá trị hợp đồng mua bán ngoại thương lớn. Thời hạn cho vay xuất nhập khẩu thường là ngắn hạn do gắn liền với thời hạn của Luan van 9 thương vụ mua bán, trong khi nguồn vốn huy động của NHTM phần lớn là ngắn hạn, vì vậy ngân hàng tránh được rủi ro thanh khoản - Hoạt động cho vay xuất nhập khẩu đảm bảo các doanh nghiệp sẽ sử dụng vốn đúng mục đích do các khoản vay thường gắn liền với các thương vụ cụ thể, phần lớn tiền vay sẽ được chuyển trực tiếp cho bên thứ ba mà không qua bên vay để thanh toán tiền hàng nhập khẩu nguyên vật liệu, nhập khẩu hàng hóa, máy móc thiết bị cho bên cung cấp. Như vậy, hoạt động cho vay xuất nhập khẩu rất hiệu quả trong việc hạn chế người vay sử dụng vốn sai mục đích, từ đó tăng tính an toàn trong hoạt động cho vay của NHTM, đảm bảo thu hồi nợ của ngân hàng, tránh tình trạng doanh nghiệp sử dụng vốn của NHTM để sử dụng cho mục đích khác trong thời gian vốn tạm thời nhàn rỗi.
- Các khoản vay xuất nhập khẩu thường có quy mô vừa và lớn, đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập lớn từ lãi vay. Ngoài ra, hoạt động cho vay xuất nhập khẩu thường gắn liền với các hoạt động tài trợ ngoại thương khác như thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ. Do vậy, hoạt động cho vay xuất nhập khẩu cũng góp phần mở rộng các nghiệp vụ kinh doanh và tăng thu nhập từ dịch vụ cho NHTM. - Hoạt động cho vay xuất nhập khẩu góp phần đa dạng hóa các lĩnh vực cho vay của ngân hàng, phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của hoạt động ngoại thương, góp phần hạn chế rủi ro, tăng khả năng cạnh tranh và thu nhập cho ngân hàng.
- Hoạt động cho vay xuất nhập khẩu liên quan đến nhiều yếu tố nước ngoài mang lại nhiều rủi ro cho doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu: rủi ro quốc gia nếu có nhiều sự thay đổi về chính sách ngoại thương, thuế quan của quốc gia nhập khẩu, tình hình chính trị của khu vực và quốc gia đó; rủi ro pháp lý; rủi ro ngoại tệ; rủi ro đạo đức của người chuyên chở,. điều này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của đơn Luan van 10 vị và khả năng trả nợ vay ngân hàng. Vai trò của cho vay xuất nhập khẩu của NHTM Luan van 11 không qua bên đề nghị phiếu 1. Phân loại cho vay xuất nhập khẩu Cho vay xuất nhập khẩu của NHTM bao gồm nhiều hình thức khác nhau tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của ngân hàng và những qui định của pháp luật trong từng giai đoạn phát triển kinh tế.
Phân loại cho vay theo mục đích sử dụng vốn và hình thức tài trợ Cho vay đối với doanh nghiệp xuất khẩu NHTM cho các doanh nghiệp xuất khẩu vay dưới các hình thức như: cho vay thông thường, cho vay trên cơ sở hối phiếu, cho vay trên cơ sở phương thức thanh toán nhờ thu, cho vay trên cơ sở phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Cho vay thông thường Cho vay thông thường là việc ngân hàng giao cho khách hàng một khoản tiền để họ sử dụng trong một thời gian nhất định. Khi hết hạn, người vay phải trả đầy đủ cả gốc và lãi. Đây là hình thức cho vay truyền thống, về kỹ thuật và phương pháp cho vay giống như các dạng cho vay khác. Nó bao gồm các phương thức như cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng.
Hình thức cho vay này được sử dụng cho các mục đích thu mua sản xuất, chế biến xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu vốn lưu động, ngoài ra còn được sử dụng để trang trải các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất hoặc mua máy móc thiết bị từ nước ngoài, lắp đặt dây chuyền sản xuất… Dù cho vay dưới hình thức nào thì doanh nghiệp đều phải thực hiện ba nguyên tắc cho vay: vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và phải hoàn trả cả gốc và lãi đầy đủ đúng kỳ hạn đã thoả thuận. Bên cạnh đó ngân hàng đòi hỏi người đi vay phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của một ngân hàng hoặc một người thứ ba. Các biện pháp bảo đảm này ngoài việc tránh rủi ro không thu hồi được nợ cho ngân hàng còn nhằm thúc đẩy người vay sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả, bù đắp đủ chi phí, có lợi nhuận để trên cơ sở đó thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ đúng thời hạn đã cam kết với ngân hàng. Cho vay trên cơ sở hối phiếu Nhà xuất khẩu khi có nhu cầu vay tiền, có thể vay ngân hàng bằng cách Luan van 13 đem chiết khấu các hối phiếu chưa đến hạn trả tiền.
Số tiền vay bằng cách chiết khấu hối phiếu thường nhỏ hơn số tiền ghi trên hối phiếu. Số chênh lệch là lợi tức chiết khấu. Lượng vốn mà ngân hàng cấp cho doanh nghiệp được xác định bằng hiệu của giá trị hối phiếu với giá trị chiết khấu và tỷ lệ phí nhờ thu. Giá trị chiết khấu được xác định theo công thức: Kd = Kh*(1- P*t/100) Trong đó: Kd: giá trị chiết khấu hối phiếu.
P: tỷ lệ chiết khấu. Kh: giá trị hối phiếu. t: thời hạn chờ thanh toán hối phiếu. Thời hạn vay bằng cách chiết khấu hối phiếu là thời hạn còn lại chưa đến hạn thanh toán của hối phiếu.
Cơ sở để xác định khối lượng tín dụng này là giá trị của hối phiếu sau khi đã trừ đi giá trị chiết khấu và lệ phí nhờ thu. Hình thức tín dụng này khá phổ biến vì việc chiết khấu thường dễ dàng và ngay khi giao chứng từ về hàng hoá người xuất khẩu đã có thể sử dụng được lợi nhuận của hoạt động xuất khẩu để tái đầu tư. Về cơ bản, trách nhiệm đối với khoản nợ phải đòi vẫn là người xuất trình hối phiếu khi hối phiếu không đòi được tiền vào ngày đến hạn Chiết khấu bộ chứng từ hàng hoá xuất khẩu Chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất là hình thức cho vay, tài trợ vốn của ngân hàng cấp cho nhà xuất khẩu trên cơ sở chiết khấu bộ chứng từ trước khi đến hạn thanh toán bộ chứng từ đó. Với hình thức này, ngân hàng tạo điều kiện cho nhà xuất khẩu thu hồi được vốn nhanh tương tự như chiết khấu hối phiếu (thực tế thời hạn mà nhà nhập khẩu phải trả cho nhà xuất khẩu chưa đến).
Tỉ lệ chiết khấu phụ thuộc vào phương thức chiết khấu: Chiết khấu có truy đòi: ngân hàng sau khi thực hiện chiết khấu bộ Luan van 14 chứng từ, sẽ quay lại truy đòi nhà xuất khẩu nếu bên nước ngoài từ chối thanh toán, lãi suất chiết khấu trong trường hợp này thường thấp. Chiết khấu miễn truy đòi: ngân hàng mua đứt bộ chứng từ, nếu bên nước ngoài không thanh toán thì ngân hàng chiết khấu sẽ chịu rủi ro, không được truy đòi lại khách hàng. Lãi suất chiết khấu trường hợp này thường cao. Cho vay ứng trước cho nhà xuất khẩu Trong quá trình chuẩn bị và thực hiện hợp đồng xuất khẩu, các doanh nghiệp có thể đề nghị Ngân hàng thương mại tạm ứng trước một phần vốn để doanh nghiệp thực hiện thu mua và chế biến sản xuất sản phẩm cho chính hợp đồng xuất khẩu đó cho đến khi thu được lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu và dùng chính lợi nhuận đó để trả nợ ngân hàng.
Hình thức tín dụng này bao gồm hai hình thức sau: Cho vay ứng trước trong phương thức tín dụng chứng từ Cho vay ứng trước được sử dụng với L/C điều khoản đỏ. Đây là loại thư tín dụng quy định một khoản tiền ứng trước của nhà nhập khẩu cho nhà xuất khẩu vào một thời điểm xác định, trước khi xuất trình bộ chứng từ hàng hoá. Các điều khoản ứng trước thường được quy định trong một điều kiện thuận lợi cho các bên thực hiện. Điều khoản này yêu cầu ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận cấp cho bên xuất khẩu một khoản tín dụng trước khi giao hàng.
Bên nhập khẩu sẽ quy định rõ giá trị tiền ứng trước, tối đa có thể là toàn bộ giá trị L/C tuỳ thuộc quan hệ với nhà xuất khẩu và người nhập khẩu sẽ quyết định liệu người xuất khẩu sẽ phải xuất trình tài liệu gì làm đảm bảo cho ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận khi bên xuất khẩu nhận tiền ứng trước. Ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận sẽ thu hồi số tiền ứng trước cộng với lãi sau khi ngân hàng mở L/C thanh toán nếu có bộ chứng từ phù hợp. Bên cạnh đó, ngân hàng thông báo hay ngân hàng xác nhận cũng có Luan van 15 quyền đòi số tiền này từ ngân hàng mở L/C nếu nhà xuất khẩu vì một lí do nào đó không thể xuất trình được chứng từ phù hợp với điều kiện của L/C. Cho vay ứng trước trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ Sau khi lập xong bộ chứng từ hàng hoá, vận chuyển, bảo hiểm và các chứng từ liên quan khác, nhà xuất khẩu sẽ nộp lên ngân hàng của mình nhờ thu hộ tiền.