Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro, rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. - Chương 2: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong. - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ RỦI RO, RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NH (Chương này giới thiệu kiến thức nền về rủi ro, tín dụng, rủi ro tín dụng và các cách đánh giá rủi ro tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam và trên thế giới.
Phân tích, tìm ra các lý do cơ bản dẫn đến rủi ro tín dụng và các bước quản trị rủi ro tín dụng tại NH. Từ đó làm nền tảng, tiền đề cho phân tích, nghiên cứu các chương sau.1 Rủi ro và những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NH. Khái niệm về rủi ro. Trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày, dù muốn hay không muốn thì chúng ta vẫn luôn đối mặt với nhiều rủi ro có thể xảy đến bất kể ở đâu, khi nào.
Có rất nhiều định nghĩa về rủi ro, các định nghĩa này được đưa ra dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng tổng hợp lại có thể chia làm 2 trường phái lớn: - Trường phái truyền thống: Theo Joel Bessis (2011) thì rủi ro là những bất trắc có thể dẫn đến thua lỗ hoặc thiệt hại về lợi nhuận. Tương tự, theo Nguyễn Quang Thu (2015) thì rủi ro là một điều gì đó không tốt, không mong đợi sẽ xảy ra. Rủi ro theo trường phái truyền thống nhấn mạnh đến sự tổn thất, không may xảy ra, là điều không tốt và mang tính ngẫu nhiên, khó dự đoán trước được. - Theo trường phái hiện đại: “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được” (Frank Knight).
“Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không mong đợi” (Allan Willett). Rủi ro theo trường phái hiện đại có thể nghiên cứu và đo lường được, định nghĩa này vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Một rủi ro khi xảy ra có thể mang đến những tổn thất, mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội có được từ việc tận dụng rủi ro đó. Vì vậy, nếu ta tích cực nghiên cứu về rủi ro thì có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, phát hiện và tận dụng những cơ hội tốt đẹp đem lại từ rủi ro đó.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Những rủi ro đặc thù trong hoạt động của ngân hàng 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại (NHTM) hình thành và phát triển song hành cùng sự phát triển của nền kinh tế. Hiện nay, ngân hàng thương mại đang trở thành định chế tài chính không thể thiếu trong nền kinh tế của các quốc gia.
Theo điều 20 của Luật các Tổ chức Tín dụng (2010) có qui định: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo qui định của Luật này và các qui định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Tại Điều 4, Giải thích từ ngữ, Luật các Tổ Chức Tín dụng (2010) cũng ghi rõ: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” Như vậy, ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ, chức năng chính của nó là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả khi đến hạn và sử dụng số tiền đó để cho vay, cung ứng dịch vụ thanh toán cho khách hàng. Các hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM: nhận tiền gửi, hoạt động tài trợ của ngân hàng, tài trợ cho các hoạt động của chính phủ, tài trợ cho nền kinh tế, mua bán ngoại tệ, hoạt động dịch vụ. Về chức năng của NHTM, chúng ta sẽ xem Ngân hàng như xương sống của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng cung cấp một kênh dẫn vốn gián tiếp từ những người có nhu cầu đến công ty làm thay đổi sơ đồ luân chuyển vốn như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Dân chúng Công ty Ngân hàng Vốn (cung cấp dịch vụ) CP &TP Ngân hàng Chứng chỉ tiền Vốn (nhà luân chuyển gửi tài sản) (Nguồn: Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, 2011) Hình 1.1: Dòng lƣu chuyển vốn trong nền kinh tế hiện nay Theo sơ đồ trên, ta thấy ngân hàng thực hiện 2 chức năng cơ bản là làm trung gian tín dụng và trung gian thanh toán.
NHTM làm trung gian tín dụng: NHTM huy động vốn các kì hạn từ nền kinh tế để sử dụng nguồn vốn đó cho vay, cung cấp tín dụng cho các thành phần kinh tế. Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng này, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn. NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia.
NHTM làm trung gian thanh toán: NHTM quản lý tài khoản khách hàng, cung cấp các phương tiện thanh toán như sec, thẻ,. Tùy theo nhu cầu mà khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy, các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn.
Ngoài ra, NHTM còn có chức năng khác là tạo tiền cho nền kinh tế. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các loại rủi ro thƣờng gặp trong quá trình hoạt động của NHTM Theo Joel Bessis (2011) thì trong quá trình hoạt động, các NHTM thường gặp những rủi ro sau: - Rủi ro tín dụng: Đây là rủi ro quan trọng nhất trong hoạt động của Ngân hàng. Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro vỡ nợ, rủi ro giảm uy tín, rủi ro nguy cơ, rủi ro đối tác, rủi ro hồi phục, trong đó: + Rủi ro vỡ nợ: xảy ra khi người đi vay không thể đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ, vỡ nợ gây ra thua lỗ một phần hoặc toàn phần đối với khoản tiền cho vay.
+ Rủi ro chuyển hạng: Khách hàng chưa vỡ nợ có nghĩa là vẫn thanh toán nợ cho ngân hàng nhưng tiến độ thanh toán trễ hạn làm ảnh hưởng đến uy tín trả nợ, làm tăng nguy cơ mất vốn của ngân hàng. + Rủi ro nguy cơ: là độ lớn của lượng tiền có thể gặp rủi ro. Đối với một khoản vay, đó là số tiền cho vay cộng với lãi suất. + Rủi ro đối tác: ngân hàng sẽ đối mặt với rủi ro mất giá trị của những công cụ phái sinh (hợp đồng hoán đổi và hợp đồng quyền chọn) do các giá trị này thay đổi liên tục và rủi ro tín dụng thay đổi với biến động của thị trường.
+ Rủi ro hồi phục: là sự bất trắc xuất phát từ thời điểm vỡ nợ và tài sản đảm bảo của người vay. Vì thế, rủi ro hồi phục là sự ngẫu nhiên trong thu nhập từ sự vỡ nợ của người đi vay. - Rủi ro thanh khoản: là rủi ro do không có đủ vốn (tiền), nghiêm trọng nhất là không thể huy động vốn để đáp ứng mọi nghĩa vụ liên quan đế việc chi trả, hoặc phát tiền ra. Tính thanh khoản thấp trầm trọng có thể gây ra phá sản đối với ngân hàng.
Những tin tức thị trường, thua lỗ lớn không báo trước có thể gây ra sự nghi ngờ về tính thanh khoản đối với tổ chức tín dụng có thể dẫn đến các khách hàng gửi tiền sẽ đến ngân hàng rút tiền gửi, tiết kiệm ồ ạt làm ảnh hưởng lớn đến thanh khoản của ngân hàng đó. - Rủi ro lãi suất: khi có sự biến động lãi suất sẽ gây ra rủi ro thu nhập lãi thực sẽ giảm. Thu nhập lãi thực được tính bằng doanh thu lãi trừ đi chi phí lãi do những biến động trong lãi suất. Phần lớn những khoản vay và những khoản thu trên bảng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 cân đối của ngân hàng, những khoản tiền gửi tạo ra doanh thu và chi phí theo lãi suất.
Do lãi suất thay đổi nên thu nhập thay đổi theo sự biến đổi của lãi suất. - Rủi ro lệch hạn: là sự chênh lệch giữa ngày đáo hạn và ngày thay đổi lãi suất của tài sản và nợ. Các ngân hàng thường cho vay trung dài hạn từ nguồn vốn huy động ngắn hạn, điều này dẫn đến rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất. Rủi ro thanh khoản là việc cần phải gia hạn những khoản nợ ngắn hạn để có vốn đến ngày tài sản đáo hạn.
- Rủi ro thị trường: do sự biến động giá trị của thị trường của danh mục đầu tư theo hướng bất lợi cho ngân hàng. Đây là nguyên nhân gây ra các thiệt hại chủ yếu về thu nhập, và là tác nhân kích thích khách hàng có các phản ứng bất lợi cho ngân hàng. Bao gồm rủi ro về giá và rủi ro chi trả. - Rủi ro tỷ giá: là rủi ro thua lỗ phát sinh khi tỷ giá hối đoái thay đổi.
Khi có sự chênh lệch về kỳ hạn, loại tiền tệ của các khoản ngoại tệ, vì thế khiến cho ngân hàng có thể bị thua lỗ khi tỷ giá ngoại hối biến động. - Rủi ro khả năng thanh toán: là rủi ro vốn hiện có không thể chống đỡ với những thua lỗ cho các loại rủi ro.