phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các từ viết tắt, kết cấu luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về quản trị rủi ro tác nghiệp tại Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro tác nghiệp tại BIDV. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tác nghiệp tại BIDV. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Rủi ro tác nghiệp tại ngân hàng thƣơng mại 1.1 Rủi ro của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại Ngân hàng thƣơng mại là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phƣơng tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tƣợng trên. NHTM là loại ngân hàng có số lƣợng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế.
Sự có mặt của NHTM trong hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế, xã hội đã chứng minh rằng: ở đâu có một hệ thống NHTM phát triển, thì ở đó sẽ có sự phát triển với tốc độ cao của nền kinh tế, xã hội và ngƣợc lại. Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2009: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật”. Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2011: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi: là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dƣới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho ngƣời gửi tiền theo thỏa thuận.
Cấp tín dụng: là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản: là việc cung ứng phƣơng tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thƣ tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng. Nhƣ vậy, có thể nói rằng NHTM là một loại định chế tài chính trung gian cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trƣờng. Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội đƣợc huy động, tập trung lại với số lƣợng đủ lớn để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm mục đích phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.2 Khái niệm về rủi ro Trong môi trƣờng sống của chúng ta đầy rẫy những rủi ro.
Rủi ro có thể xuất hiện trong mọi ngành, mọi lĩnh vực. Rủi ro có thể xuất hiện một cách bất ngờ ở mọi lúc, mọi nơi. Có nhiều định nghĩa về rủi ro nhƣng có thể chia làm hai quan điểm: Theo quan điểm truyền thống: “Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người”. Theo quan điểm trung hòa: “Rủi ro là một sự không chắc chắn, một tình trạng bất ổn hay sự biến động tiềm ẩn ở kết quả”.
Tuy nhiên, chỉ có những tình trạng không chắc chắn nào có thể ƣớc đoán đƣợc xác suất xảy ra mới đƣợc xem là rủi ro. Những tình trạng không chắc chắn nào chƣa từng xảy ra và không thể ƣớc đoán đƣợc xác suất xảy ra đƣợc xem là sự bất trắc. Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lƣờng đƣợc. Rủi ro vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực.
Rủi ro có thể mang đến cho con ngƣời những tổn thất, mất mát nguy hiểm, nhƣng cũng có thể mang đến những cơ hội, thời cơ. Nếu tích cực nghiên cứu, nhận dạng, đo lƣờng rủi ro, chúng ta có thể tìm ra đƣợc những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những tiêu cực và phát huy đƣợc những cơ hội tích cực mang lại từ rủi ro. Hoạt động ngân hàng luôn gắn chặt với sức khỏe của nền kinh tế trong nƣớc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 cũng nhƣ ngoài nƣớc. Trong bối cảnh nền kinh tế trong nƣớc và quốc tế gặp nhiều khó khăn, rủi ro càng nảy sinh và tiềm ẩn nhiều thách thức đối với hệ thống ngân hàng.
Vì vậy, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành đƣợc một nghiệp vụ tài chính nhất định.3 Các loại rủi ro chủ yếu của ngân hàng thương mại Có thể chia các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng thành 4 loại chính: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trƣờng, rủi ro thanh khoản và rủi ro tác nghiệp. Rủi ro tín dụng: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng”. Rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà ngân hàng là chủ nợ, mà khách nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, bao thanh toán… Rủi ro tín dụng còn đƣợc gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lƣợng hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Nhƣ vậy có thể thấy rằng rủi ro tín dụng có hai cấp độ là khách hàng trả nợ không đúng hạn hoặc khách hàng không trả đƣợc nợ cho ngân hàng. Do đó, rủi ro tín dụng là khách quan, tồn tại song song với tín dụng ngân hàng, ngân hàng có thể hạn chế và chấp nhận rủi ro tín dụng ở mức độ nhất định. Rủi ro thị trường: Rủi ro thị trƣờng là rủi ro xảy ra do sự biến động, thay đổi bất lợi của các yếu tố thị trƣờng bao gồm: tỷ giá, lãi suất, giá cả… Lãi suất và tỷ giá là những phạm trù khác nhau và sự biến động của chúng cũng tác động không giống nhau đến hoạt động ngân hàng. Trong khi lãi suất biến động làm thay đổi thu nhập và chi phí, thì tỷ giá biến động sẽ làm thay đổi giá trị của tài sản và nguồn vốn của ngân hàng.
Song hai phạm trù này lại có những điểm giống nhau là luôn thay đổi trên thị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 trƣờng phụ thuộc vào các yếu tố cung cầu về vốn và về ngoại tệ. Quan trọng hơn, việc xác định, đo lƣờng mức độ và các biện pháp để hạn chế rủi ro của lãi suất và tỷ giá là tƣơng tự nhau và đều phải thực hiện thông qua các nghiệp vụ phái sinh trên thị trƣờng tiền tệ. Rủi ro tỷ giá hối đoái trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay ngoại tệ hoặc quá trình kinh doanh ngoại tệ khi tỷ giá biến động theo chiều hƣớng bất lợi cho ngân hàng, làm ảnh hƣởng đến giá trị kỳ vọng trong tƣơng lai. Rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi lãi suất thị trƣờng hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng.
Rủi ro lãi suất thƣờng xảy ra trong quan hệ tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng, quan hệ liên ngân hàng, các loại công trái, trái phiếu, tín phiếu. Rủi ro thanh khoản: “Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán”. Hiện tƣợng thiếu hụt thanh khoản là dấu hiệu đầu tiên cho thấy ngân hàng đang ở trong tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng. Hậu quả tiếp theo có thể là ngân hàng mất dần các khoản tiền gửi cũ vì áp lực rút tiền ngày càng gia tăng, không thể thu hút thêm các khoản tiền gửi mới do thái độ dè dặt của công chúng đối với ngân hàng, một số ngân hàng phải huy động vốn với lãi suất cao hơn lãi suất cho vay, càng làm suy giảm hơn nữa lợi nhuận của ngân hàng.
Rủi ro tác nghiệp (hay còn gọi là rủi ro vận hành, rủi ro hoạt động): “Rủi ro tác nghiệp là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngân hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng”.4 Mối quan hệ giữa các loại rủi ro Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có mối quan hệ biện chứng với TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 nhau, khi một rủi ro này xảy ra sẽ kéo theo một loạt các rủi ro khác. Trong các loại rủi ro thì RRTN là rủi ro ảnh hƣởng nhiều nhất và bao trùm lên tất cả các loại rủi ro khác. RRTN hiện hữu trong từng hoạt động hàng ngày tại các ngân hàng: là lỗi trong tác nghiệp và kiểm soát (do bất cẩn, lơ là, do không đủ trình độ chuyên môn), là gian lận nội bộ và bên ngoài, là các hành động phá hoại, là ảnh hƣởng từ môi trƣờng… Do đó quản lý tốt RRTN sẽ làm giảm thiểu nguy cơ xảy ra các rủi ro khác.2 Rủi ro tác nghiệp của ngân hàng thƣơng mại 1.