CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NHTM VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Nợ xấu tại NHTM 1. Khái niệm ¾ Thế giới - Theo các sách giáo khoa tài chính, các tác giả thường đưa ra những thuật ngữ về nợ xấu như “bad debt”, “non performing loan”(NPL), “doubtful debt”, hoặc là các khoản cho vay bắt đầu được đưa vào nợ xấu khi đã quá hạn trả nợ gốc và lãi 90 ngày trở lên (Peter Rose, 2009; Mishkin, 2010). - Nhóm chuyên gia tư vấn (Advisory Expert Group) của Liên hợp quốc cho rằng định nghĩa về nợ xấu không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên được sử dụng như hướng dẫn cho các ngân hàng [AEG: Hội đồng thống kê của Liên hợp quốc đã thành lập Nhóm các chuyên gia tư vấn (AEG) đễ hỗ trợ thực hiện các chương trình của mình khi tính toán các tài khoản quốc gia (National Accounts) ,2004. Advisory Expert Group định nghĩa “về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”.
Tóm lại, nợ xấu về cơ bản được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ. Đây được coi là định nghĩa của Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS(IFRS 2005 IAS 39 – Financial Instruments: Recognition and Measurement) đang được áp dụng phổ biến hiện hành trên thế giới. - Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision) không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Ngân hàng đánh giá người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để gắng thu hồi.
Người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày (Basel Committee on Banking Supervision, 2002). - Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (nonperforming). Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39 (đoạn 58-70) được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 chỉ ra rằng cần có một bằng chứng khách quan để xếp một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị. Về cơ bản, IAS 39 chú trọng tới khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn.
Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phân tích dòng tiền tương lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng. - Trong hướng dẫn để tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (FSIs), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) đưa ra định nghĩa về nợ xấu “ một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy các dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không hoàn trả nợ đầy đủ. Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế ” (IMF’s Compilation Guide on Financial Soundness Indicators, 2004 tại đoạn 4. ¾ Tại Việt Nam Từ trước năm 2013 Từ khi quyết định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam ra đời và có một số sửa đổi trong Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN Việt Nam ngày 25/04/2007, khái niệm nợ xấu được làm rõ.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3,4 và 5 bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn , nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn quy định tại điều 6 hoặc điều 7 của Quyết định 493 và Quyết định 18. Tại điều 6, các tổ chức tín dụng được yêu cầu phân loại nợ theo phương pháp định lượng, trong đó các khoản nợ xấu nhóm 3, nhóm 4, và nhóm 5 là các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng. Tại điều 7, các khoản nợ được phân loại theo phương pháp định tính và nợ xấu thuộc nhóm 3,4,5 bao gồm các khoản nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3), bao gồm nợ được đánh giá là không có khả năng thu hồi gốc và lãi khi đến hạn, nợ nghi ngờ (nhóm 4) bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng tổn thất cao, nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) bao gồm nợ được đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn. Từ năm 2013 trở lại Thông tư số 02/2013-TT-NHNN ngày 21/01/2013 quy định về phân loại tài sản có, trích lập dự phòng thay thế cho quyết định 493 và quyết định 18, hiệu lực thi hành từ tháng 6/2013.
Những điểm mới được đưa ra ở thông tư 02 gồm: - Phạm vi đối tượng trích dự phòng rộng hơn (bao gồm cả mua trái phiếu, tiền gửi tại các tổ chức tài chính trong và ngoài nước). - Có sự tham gia của trung tâm thông tin tín dụng (CIC) vào việc phân loại khách hàng theo nhóm nợ của các ngân hàng. - Quy định chi tiết và chặt chẽ hơn nguyên tắc và phương pháp phân loại nợ. - Quy định cụ thể cách tính khấu trừ đối với tài sản đảm bảo.
Thông tư 02 là sự vận dụng phương pháp đánh giá đồng nhất, việc phân loại nợ của khách hàng sẽ được áp dụng cho toàn bộ hệ thống ngân hàng. Các tổ chức tín dụng sẽ phải phân loại nợ dựa vào các tiêu chí phân loại nợ được đưa ra bởi trung tâm thông tin tín dụng (CIC), NHNN. CIC sẽ phân loại nợ cho khách hàng dựa trên chuẩn phân loại nợ cao nhất do các tổ chức tín dụng báo cáo. Bên cạnh đó phân loại nợ theo thông tư 02 phải đồng thời theo phương pháp định tính và định TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Các tổ chức tín dụng phải xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để xếp hạng khách hàng làm cơ sở cho việc xét duyệt cấp tín dụng.1 : So sánh quan điểm về nợ xấu Tiêu Basel II IAS 39 FSIs Việt Nam chí Giám sát và Lập báo cáo Tính toán chỉ Lập báo cáo kết quả Mục ổn định hoạt kết quả hoạt tiêu lành hoạt động trong kỳ tiêu tính động hệ động trong kỳ mạnh tài nợ xấu thống ngân chính hàng Nợ quá hạn Nợ quá hạn 90 Nợ quá hạn Nợ quá hạn từ ngày 91 Định 90 ngày trở ngày trở lên 90 ngày hoặc ( Điều 6- Quyết định lượng lên hơn 493) Dấu hiệu Dấu hiệu Dấu hiệu Dấu hiệu khoản nợ khoản vay khách quan là người vay có không thu hồi được và Định chưa được khoản vay bị khả năng có khả năng mất vốn tính thanh toán , giảm giá trị không trả ( Điều 7- Quyết định các mất mát được nợ 493) có thể xảy ra Nguồn: Đinh Thị Thanh Vân, 2012 Khi xem xét định nghĩa của các ngân hàng Việt Nam và thông lệ quốc tế thấy rằng về mặt định lượng thời gian trả nợ quá hạn từ 91 ngày trong định nghĩa nợ xấu của Việt Nam và thông lệ quốc tế có nhiều điểm giống nhau. Tuy nhiên, để đánh giá chính xác hơn nợ xấu thì yếu tố định tính xem xét khả năng trả nợ của người vay, đặc biệt không chỉ khi có dấu hiệu rõ ràng về việc không trả được nợ, mà còn phải xét tới các tổn thất có thể xảy ra trong tương lai là rất quan trọng. Hiện nay chỉ có một số ít NHTM Việt Nam áp dụng tiêu chuẩn định tính để tính toán nợ xấu. Do đó, việc tính toán nợ xấu theo cách tính của Việt Nam sẽ thấp hơn so với thông lệ trên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 thế giới.
Thông tư 02 ra đời làm cho việc tính toán nợ xấu theo sát với thông lệ trên thế giới do phân loại nợ theo định tính và định lượng. Phân loại nợ và trích lập dự phòng - Phân loại nợ là quá trình các ngân hàng xem xét các danh mục cho vay của mình và đưa các khoản vay vào các nhóm khác nhau dựa trên rủi ro và các đặc điểm tương đồng khác của khoản vay. Việc thường xuyên xem xét và phân loại nợ giúp cho ngân hàng có thể kiểm soát chất lượng danh mục cho vay của mình và trong trường hợp cần thiết, sẽ có các biện pháp xử lý các vấn đề phát sinh trong chất lượng tín dụng các danh mục cho vay. - Laurin và các tác giả (2002) chỉ ra rằng việc phân loại nợ khó có chuẩn mực kế toán quốc tế thống nhất.
Việc tiếp cận phân loại nợ được coi như trách nhiệm của người quản lý ngân hàng hoặc chỉ là vấn đề báo cáo giám sát. Tại nhiều quốc gia, sự cần thiết của việc áp dụng một hệ thống phân loại nợ đã được chỉ ra nhằm giúp các thanh tra ngân hàng có khả năng so sánh và phân tích danh mục cho vay của các ngân hàng. Hệ thống như vậy có thể giúp cho ngân hàng và thanh tra ngân hàng quyết định xem dự phòng phù hợp hay chưa. - Trong khối các nước không thuộc nhóm G10, quy định về trích lập dự phòng thường yêu cầu đưa ra 4 hoặc 5 nhóm nợ, Brazil với 9 nhóm, Mexico với 7 nhóm (Laurin và các tác giả, 2002).
Viện nghiên cứu tài chính quốc tế (Institute for International Finance) đưa ra và được hướng dẫn trong tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính (FSIs) của IMF, 5 nhóm nợ bao gồm: nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ cần xử lý.