CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Nợ xấu của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm nợ xấu Ngân hàng thương mại (NHTM) là ngân hàng kinh doanh tiền tệ vì mục đích lợi nhuận. Ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng để cấp tín dụng và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Với tư cách là tổ chức kinh doanh, hoạt động của ngân hàng thương mại dựa trên cơ sở chế độ hạch toán kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động cấp tín dụng là nguồn lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng. Theo thông tư 22/2019/TT-NHNH thì:" cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, mua, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, phát hành thẻ tín dụng, bảo lãnh ngân hàng, cam kết phát hành dưới hình thức thư tín dụng chứng từ (L/C) và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, bao gồm cả việc cấp tín dụng từ nguồn vốn của pháp nhân khác mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chịu rủi ro theo quy định của pháp luật". Từ khái niệm cấp tín dụng nói trên ta có thêm những khái niệm liên quan: (i) Các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi và cho thuê tài chính; (ii) Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác; (iii) Các khoản bao thanh toán; (iv) Các hình thức tín dụng khác.
Hiện nay khái niệm về nợ xấu hay cách xác định nợ xấu vẫn chưa có bất kì một công thức chung nào. Mỗi tổ chức quốc tế, mỗi ngân hàng trung ương của các quốc gia đều có quy định riêng, cách xác định riêng về nợ xấu. Ngân hàng thế giới (WB) đã đưa ra khái niệm: "nợ xấu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể bị quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ. Điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản.
Theo cách tiếp cận này, các khoản nợ được coi là dưới chuẩn bao gồm các khoản nợ đã được thỏa thuận lại hoặc bị quá hạn từ 90 đến 180 ngày; Các khoản nợ bị nghi ngờ khi không chắc chắn thu hồi được toàn bộ nợ dựa trên các điều kiện đã 3 thỏa thuận trong hợp đồng, có khả năng thất thoát và đã quá hạn từ 180 đến 360 ngày." Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) trong Hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (IFRS) năm 2004 đã đưa ra định nghĩa về nợ xấu như sau: “một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy các dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ. Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế”. Theo đó, IMF chú trọng đến thời gian quá hạn trả nợ của khoản vay và lấy mốc thời gian 90 ngày làm khoảng thời gian quá hạn chuẩn cho một khoản nợ được là như nợ xấu. Từ đây, ta có thể hiểu rằng nợ xấu là một khoản tiền mà người cho vay không thể nhận lại đủ cả gốc và lãi (có thể không thu được gì cả) hoặc thu hồi không đúng hạn.
Nợ xấu vẫn còn là một khái niệm phức tạp, chưa có cái khái niệm nào bao quát được tính chất của nó. Vì vây, dựa vào khái niệm đưa ra từ hai tổ chức quốc tế thì nợ xấu được nhận biết thông qua hai yếu tố là quá thời gian trả nợ trên 90 ngày và thấy sự bất thường, nghi ngờ về khả năng trả nợ của khách hàng. Theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN ban hành ngày 30/07/2021 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì “nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3,4 và 5 quy định tại Điều 10 và Điều 11 Quyết định này. Trong đó, nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại.
Nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại. Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý; Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại. Phân loại nợ xấu 1. Phân loại nợ xấu theo cơ sở phân loại Theo cơ sở phân loại, nợ xấu bao gồm: nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn được phân theo phương pháp định lượng và phương pháp định tính.
Cụ thể như sau: *Phân loại nợ xấu theo phương pháp định lượng Phương pháp định lượng xem xét nợ xấu dựa vào tình trạng khoản nợ. Theo đó, nợ xấu được xác định như sau: - Nợ dưới tiêu chuẩn: (i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; (ii) Nợ gia hạn nợ lần đầu; (iii) Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; (iv) Nợ được giải ngân vi phạm quy định của pháp luật hiện hành hoặc quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mà các khoản nợ đó được xếp vào nợ dưới tiêu chuẩn bằng các chỉ tiêu định lượng theo quy định. - Nợ nghi ngờ: (i) Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; (iv) Nợ được xếp vào nợ nghi ngờ bằng các chỉ tiêu định lượng theo quy định. - Nợ có khả năng mất vốn: (i) Nợ quá hạn trên 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; 5 (iv) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; (v) Nợ được xếp vào nợ có khả năng mất vốn bằng các chỉ tiêu định lượng theo quy định.
* Phân loại nợ xấu theo phương pháp định tính Phương pháp định lượng xem xét nợ xấu dựa vào tình trạng khoản nợ. Theo đó, nợ xấu được xác định như sau: - Nợ dưới tiêu chuẩn: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất. Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết.
- Nợ nghi ngờ: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao. Các cam kết ngoại bảng mà khả năng khách hàng không thực hiện cam kết là rất cao. - Nợ có khả năng mất vốn: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn. Các cam kết ngoại bảng mà khách hàng không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết.
Phân loại nợ xấu theo đảm bảo tiền vay Theo phương thức phân loại này nợ xấu được chia thành nợ xấu có tài sản đảm bảo và nợ xấu không có tài sản đảm bảo. - Nợ xấu có tài sản đảm bảo: là những khoản nợ xấu mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã thực hiện giải ngân với điều kiện khách hàng vay phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. - Nợ xấu không có tài sản đảm bảo: là những khoản nợ xấu mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã thực hiện giải ngân không có tài sản thế 6 chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng hoặc cho vay theo chỉ định của Chính phủ. Phân loại nợ xấu theo nguyên tắc hạch toán kế toán Nợ xấu được phân chia thành 2 loại là nợ xấu nội bảng và nợ xấu ngoại bảng: - Nợ xấu nội bảng: là những khoản nợ xấu vẫn đang được theo dõi trong nội bảng cân đối kế toán của TCTD.
Nợ xấu này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động SXKD trong kỳ của ngân hàng do các TCTD phải trích lập DPRR đối với các khoản nợ này theo tỷ lệ do NHNN quy định từng thời kỳ. - Nợ xấu ngoại bảng: là những khoản nợ xấu đã được sử dụng quỹ DPRR để xử lý được theo dõi ngoại bảng để tiếp tục áp dụng các biện pháp thu hồi. Việc thu hồi được các khoản nợ này sẽ làm tăng lợi nhuận bất thường của các TCTD. Nguyên nhân của nợ xấu Sơ đồ 1.
1: Mô tả nguyên nhân dẫn đến nợ xấu của NHTM - Yếu kém trong kinh doanh - Rủi ro trong kinh doanh - Môi trường chính - Đạo đức khách hàng - Quy trình tín dụng trị - Năng lực quản trị rủi - Kinh tế vĩ mô ro - Điều kiện tự nhiên - Năng lực tài chính - Môi trường pháp lý - Chất lượng cán bộ Nợ xấu 1.