CHƯƠNG 1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm Theo pháp lệnh ngân hàng ngày 23/05/1990 của Hội đồng Nhà nước xác định : “ Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.” Theo Luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 thì “Ngân hàng là loại hình tổ chức được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Ngân hàng là một loại định chế tài chính trung gian, thông qua Ngân hàng các nguồn tiền nhàn rỗi của xã hội được tập trung lại và được sử dụng nhằm hỗ trợ tài chính cho các thành phần kinh tế với mức lãi suất cao hơn.
Bên cạnh đó thông qua hoạt động của mình ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ, sản phẩm ngân hàng đáp ứng các nhu cầu của các thành phần kinh tế trong xã hội, từ đó tạo ra lợi nhuận. Chức năng của Ngân hàng Thương mại Theo truyền thống khi đề cập đến chức năng của Ngân hàng Thương mại là đề cập đến các chức năng : - Chức năng làm trung gian thanh toán : Trên cơ sở mở tài khoản giao dịch tại các Ngân hàng Thương mại, khách hàng có thể ủy nhiệm cho ngân hàng trả hoặc thu các khoản mua, bán, cung cấp dịch vụ… thay vì chính khách hàng phải thực hiện công việc này với sự hao phí về thời gian, công sức mà vẫn không đảm bảo an toàn trong quá trình thanh toán với các đối tác. Cùng với sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại chức năng này ngày càng phát huy được hiệu quả và sự tiện ích. - Chức năng tạo tiền : Từ một số tiền gửi ban đầu, thông qua chức năng này, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 ngân hàng đã tạo ra số tiền lớn gấp nhiều lần số ban đầu để phục vụ cho hoạt động kinh tế.
Công thức tính toán khả năng tạo tiền như sau: Số tiền gửi ban đầu Tổng số bút tệ tạo ra = Tỷ lệ dự trữ bắt buộc - Chức năng làm dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác : trong quá trình hoạt động, ngân hàng có được hệ thống mạng lưới giao dịch rộng khắp, xây dựng được mối quan hệ rộng với nhiều tổ chức, cơ quan có chức năng khác nhau vì thế có điều kiện thu thập được một khối lượng thông tin đáng kể. Từ đó hình thành nên một chức năng khác của ngân hàng thương mại là đảm nhận các dịch vụ khách hàng khác như tư vấn mua bán, đầu tư chứng khoán, làm đại lý phát hành và quản lý chứng khoán, cho thuê két sắt, kiểm tra và cung cấp thông tin về các đối tác kinh doanh nước ngoài cho các khách hàng… Chức năng này có tính chất hỗ trợ cho các hoạt động nghiệp vụ khác tại ngân hàng. - Chức năng trung gian tín dụng: là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của Ngân hàng Thương mại; là hoạt động cầu nối giữa cung và cầu vốn trong xã hội, dịch chuyển vốn tiền từ nơi thừa đến nơi thiếu. Là mắt xích kết nối giữa tiết kiệm, tích lũy và đầu tư góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế.
Theo quan điểm mới; chức năng của Ngân hàng Thương mại cũng là những chức năng cơ bản của một Ngân hàng đa năng và được mô tả bằng sơ đồ của Peter S. Rose : LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tổng quan về tín dụng Ngân hàng 1. Khái niệm và phân loại tín dụng Tín dụng xuất phát từ nhu cầu tiết kiệm và nhu cầu đầu tư, tín dụng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư.
Tín dụng là loại hoạt động trong đó phía ngân hàng thương mại chuyển giao tiền hoặc tài sản cho khách hàng sử dụng trong một thời gian nhất định trên cơ sở có sự cam kết từ phía khách hàng sẽ hoàn trả cho Ngân hàng tiền gốc và một khoản phí theo thời hạn đã thoả thuận. Nói đơn giản đó là hoạt động cho vay trên cơ sở có hoàn trả sau một thời hạn nhất định. Như vậy tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung : - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn Tiền từ người sở hữu sang người sử dụng. - Sự chuyển nhượng này có tính thời hạn.
- Sự chuyển nhượng này kèm theo chi phí. Tùy vào cơ sở xem xét mà tín dụng được phân thành các loại hình khác nhau : - Căn cứ vào thời hạn cấp tín dụng : tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung dài hạn, hạn mức quay vòng. - Căn cứ vào mức độ tín nhiệm : tín dụng tín chấp, tín dụng có tài sản đảm bảo. - Căn cứ vào khách hàng : tín dụng cá nhân, tín dụng doanh nghiệp.
- Căn cứ vào kỹ thuật nghiệp vụ : bảo lãnh, thấu chi, chiết khấu, cho thuê tài chính… - Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn : tín dụng tiêu dùng, tín dụng sản xuất kinh doanh… - Căn cứ vào xuất xứ món vay : tín dụng trực tiếp, tín dụng giáng tiếp. Bản chất của Tín dụng Bản chất của tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh giữa người đi vay và người cho vay, thông qua hoạt động tín dụng mà vốn tiền tệ được vận động từ chủ thể này sang chủ thể khác để sử dụng. Tín dụng chỉ là sự chuyển giao quyền sử LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 dụng một số tiền hoặc tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác mà không làm thay đổi quyền chủ sở hữu của tiền hoặc tài sản. Sau thời gian thỏa thuận, giá trị của khoản tín dụng không những được bảo tồn mà còn được nâng lên thêm nhờ lợi tức tín dụng.
Tác dụng của tín dụng Tác dụng của tín dụng trong nền kinh tế xã hội thể hiện rõ qua các mặt sau: - Góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả : tín dụng ngân hàng làm cho vốn tiền của xã hội được huy động và sử dụng tối đa cho nhu cầu phát triển kinh tế, góp phần đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn; do phần lớn tiền tệ của nền kinh đều tập trung qua hệ thống ngân hàng. Vì vậy nó có tác dụng ổn định lưu thông tiền tệ, giá cả thị trường. - Góp phần thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá phát triển :thông qua hoạt động cung ứng số lượng vốn lớn kết hợp với nhiều thời hạn khác nhau; tín dụng ngân hàng có tác dụng đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế. Giúp cho các nhà sản xuất kinh doanh có vốn để mở rộng, đầu tư, đổi mới thiết bị.
làm cho năng lực sản xuất của xã hội ngày càng tăng. - Góp phần tạo công ăn việc làm, ổn định đời sống trật tự XH : mức độ tăng, giảm tín dụng là sự biểu hiện chính sách tiền tệ nới lỏng hay thắt chặt. Sự gia tăng tín dụng sẽ có tác động làm tăng cung tiền, qua đó tác động đến lạm phát. Mặc khác, tín dụng là một trong những công cụ giúp chính phủ thực hiện chính sách tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn hoặc những ngành cần khuyến khích phát triển.
Tổng quan về rủi ro và rủi ro tín dụng Ngân hàng 1. Rủi ro và rủi ro trong hoạt động Ngân hàng Rủi ro là sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn, nhưng không phải sự không chắc chắn nào cũng đều là rủi ro. Chỉ có những tình trạng không chắc chắn có thể ước đoán được xác suất xảy ra mới được xem là rủi ro; những tình trạng không chắc chắn chưa từng xảy ra và không thể ước được xác suất xảy ra được xem là sự bất trắc, đó không phải là rủi ro. Rủi ro trong hoạt động dùng để mô tả chung mọi biến cố ngẫu nhiên xảy ra ngoài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 sự mong đợi có thể tác động đến hoạt động của một tổ chức.
Trong hoạt động Ngân hàng, rủi ro là vấn đề tất yếu không thể loại trừ, nó gắn liền với hoạt động kinh doanh bất kể mọi biện pháp phòng chống như luật pháp, quy định, hệ thống thanh tra, kiểm tra, bảo hiểm,…Xác định được rủi ro và nắm được bản chất của nó trong hoạt động Ngân hàng sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc đưa ra những biện pháp hoặc đề xuất hướng giải quyết nhằm ngăn chặn, hạn chế các tổn thất trong hoạt động cho ngân hàng. Thông thường một Ngân hàng trong quá trình hoạt động thường xuyên đối mặt với các loại rủi ro chủ yếu sau : Rủi ro lãi suất: thể hiện rủi ro lỗ tiềm tàng của một Ngân hàng do các biến động của lãi suất. Rủi ro lãi suất có thể có một số hình thức khác nhau, như rủi ro xác định lại lãi suất, rủi ro đường cong lãi suất thay đổi, rủi ro tương quan lãi suất, và rủi ro quyền chọn đi kèm. Rủi ro thanh khoản: Phát sinh chủ yếu từ xu hướng của các Ngân hàng là huy động ngắn hạn và cho vay dài hạn.
Trường hợp này thường xảy ra nếu như các khoản huy động về mặt kỹ thuật sẽ phải hoàn trả theo yêu cầu của người gửi tiền, đặc biệt như chúng ta đã thấy trong bất cứ cuộc khủng hoảng nào thì người gửi tiền sẽ rút tiền của mình ra nhanh hơn việc người đi vay sẵn sàng trả nợ. Rủi ro giá cả: Đây là rủi ro về việc giá trị các tài sản của một Ngân hàng có thể biến động. Rủi ro này xuất hiện trong tất cả các chủng loại tài sản, từ bất động sản đến cổ phiếu và trái phiếu. Rủi ro ngoại hối: Phát sinh khi có sự chênh lệch về kỳ hạn, về loại tiền tệ của các khoản ngoại hối nắm giữ, và vì thế làm cho Ngân hàng có thể phải gánh chịu thua lỗ khi tỷ giá ngoại hối biến động.
Rủi ro hoạt động: Bao gồm toàn bộ các rủi ro có thể phát sinh từ cách thức mà một Ngân hàng điều hành các hoạt động của mình. Các ví dụ về rủi ro hoạt động là rất nhiều như: việc cấu trúc hạn mức không phù hợp trong lĩnh vực kinh doanh nguồn vốn, quản trị tồi các quy trình quản lý tín dụng, cán bộ tham ô, thiếu các kế hoạch khôi phục kinh doanh trong trường hợp xảy ra thảm họa. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.