CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẺ NGÂN HÀNG 1. TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT 1. Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán không dùng tiền mặt là tổng hợp tất cả các khoản thanh toán tiền tệ giữa các đơn vị, được thực hiện bằng cách trích chuyển tiền trên tài khoản hoặc bù trừ lẫn nhau thông qua ngân hàng mà không trực tiếp sử dụng tiền mặt trong khoản thanh toán đó. Đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán không dùng tiền mặt có 3 đặc điểm lớn sau: Thứ nhất, sự vận động của tiền tệ độc lập so với sự vận động của vật tư hàng hoá cả về không gian và thời gian, thông thường sự vận động của tiền trong thanh toán và sự vận động của vật tư hàng hoá là không có sự ăn khớp nhau.
Đây là đặc điểm lớn nhất, nổi bật nhất trong thanh toán không dùng tiền mặt, do đó cần có sự nhận thức đúng đắn về đặc điểm này. Thứ hai, trong thanh toán không dùng tiền mặt vật môi giới (tiền mặt) không xuất hiện như trong thanh toán bằng tiền mặt mà nó chỉ xuất hiện dưới hình thức tiền tệ kế toán (tiền ghi sổ). Trong quá trình thanh toán không xuất hiện tiền mặt mà thanh toán bằng cách trích tiền từ tài khoản của người chi trả vào tài khoản của người thụ hưởng mở tại ngân hàng. Thứ ba, trong thanh toán không dùng tiền mặt, vai trò của ngân hàng là rất to lớn – vai trò của người tổ chức và thực hiện các khoản thanh toán.
Ngoài hai hoặc nhiều đơn vị mua bán tham gia trong thanh toán, thì ngân hàng xem như một người “thứ ba” không thể thiếu được trong thanh toán chuyển khoản. Bởi vì chỉ có ngân hàng, người quản lý tài khoản tiền gởi của đơn vị, mới được phép trích chuyển tài khoản của đơn vị coi như một loại nghiệp vụ đặc biệt của ngân hàng. Do đó, có thể nói toàn bộ quá trình thanh toán được thực hiện thuận lợi trôi chảy hay không được quyết định bởi người GVHD : PGS.TS Trần Huy Hoàng HVTH : Phạm Thị Thanh Bình – NH Ngày 2 – K15 123doc 11 thực hiện, mà trong đó ngân hàng là người kết thúc quá trình thanh toán. Cơ sở pháp lý của hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật đảm bảo cho các hoạt động thanh toán thẻ hợp pháp tại Việt Nam, bao gồm: - Nghị định 64/2001/NĐ-CP ngày 20/09/2001 về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
- Quyết định 44/2002/QĐ-TTg ngày 21/03/2002 của Thủ Tướng Chính Phủ về việc sử dụng chứng từ điện tử kế toán để hạch toán và thanh toán vốn của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Theo đó, thừa nhận chứng từ điện tử là chứng từ kế toán được thể hiện dưới dạng dữ liệu điện tử đã được mã hóa mà không có sự thay đổi trong quá trình truyền qua mạng máy tính hoặc trên vật mang tin như băng từ, đĩa từ, các loại thẻ thanh toán. - Đến nay, một văn bản mới nhất điều chỉnh hoạt động thẻ ngân hàng đó là Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007 Ban hành Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng. Quyết định này thay thế Quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN1 ngày 19/10/1999 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng.
Ý nghĩa của thanh toán không dùng tiền mặt: 1. Lợi ích đối với khách hàng: Khi giao dịch với ngân hàng để thanh toán hàng hoá dịch vụ, họ phải mở tài khoản tiền gởi tại ngân hàng. Tiền này được sử dụng bất cứ lúc nào và nó có tính thanh khoản 100%. Quá trình thanh toán diễn ra nhanh hơn và khách hàng không phải bận tâm đến những rủi ro bất ngờ như: trộm cắp, thiên tai, hỏa hoạn… trong quá trình đem theo một lượng tiền mặt để thanh toán.
Ngoài ra, khi khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng và duy trì số tiền họ còn được hưởng những lợi ích khác như: được trả lãi, được cung cấp nhiều dịch vụ ngân hàng với nhiều ưu đãi… GVHD : PGS.TS Trần Huy Hoàng HVTH : Phạm Thị Thanh Bình – NH Ngày 2 – K15 123doc 12 1.Lợi ích đối với ngân hàng: Tài khoản tiền gởi của khách hàng tại ngân hàng là nguồn huy động vốn quan trọng không thể thiếu được trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Mặt khác nguồn vốn này đang được ngân hàng trả lãi rất thấp hoặc không trả lãi nên khi dùng vốn này để cho vay thì mức lợi nhuận thu được tương đối cao. Tuy nhiên mỗi ngân hàng sẽ có cách riêng của mình để sử dụng nguồn vốn huy động từ tiền gởi thanh toán làm thế nào vẫn đảm bảo tính thanh khoản nhưng vẫn thu lợi nhuận cao. Nhờ nguồn vốn quan trọng này nên các ngân hàng có điều kiện để mở rộng cung ứng các dịch vụ cho khách hàng, tạo điều kiện để tăng lợi nhuận một cách hiệu quả nhất.
Lợi ích đối với nền kinh tế: Thanh toán không dùng tiền mặt làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, từ đó làm giảm chi phí lớn cho việc in ấn, bảo quản, vận chuyển, kiểm đếm. Mặt khác thanh toán không dùng tiền mặt góp phần tăng cường hiệu quả quản lý của ngân hàng. Thanh toán không dùng tiền mặt còn góp phần chống thất thu thuế có hiệu quả. Ở nhiều nước trên thế giới thông qua khách hàng tham gia thanh toán qua ngân hàng mà tất cả các khoản thu nhập hay chi phí phát sinh trên tài khoản, do đó việc trốn thuế và thu thuế dễ dàng và hạn chế tối đa việc trốn thuế.
Nếu tổ chức tốt công tác thanh toán không dùng tiền mặt còn góp phần thúc đẩy quá trình vận động của vật tư hàng hóa trong nền kinh tế, thông qua đó mối quan hệ kinh tế lớn sẽ được giải quyết nhanh chóng, an toàn, chính xác và tiết kiệm được thời gian. TỔNG QUAN VỀ THẺ NGÂN HÀNG 1. Khái niệm thẻ ngân hàng Thẻ ngân hàng được hiểu qua các khái niệm sau: Thẻ ngân hàng là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi ngân hàng.TS Trần Huy Hoàng HVTH : Phạm Thị Thanh Bình – NH Ngày 2 – K15 123doc 13 Thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, mà người sở hữu thẻ có thể sử dụng rút tiền mặt tại các máy ATM, các quầy dịch vụ của ngân hàng; đồng thời có thể sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ tại cơ sở chấp nhận thẻ. Lịch sử ra đời của thẻ ngân hàng.
Thẻ ngân hàng ra đời bắt nguồn từ việc các đại lý bán lẻ cung cấp tín dụng cho khách hàng. Chiếc thẻ ngân hàng đầu tiên trong lịch sử loài người có lẽ là thẻ gỗ của những người Tallymen ở thế kỷ 18. Họ bán trang phục cho khách hàng bằng cách trả góp hàng tuần. Hồ sơ trả tiền của khách được lưu giữ và tính toán trên một miếng gỗ, tiền nợ được ghi trên một đầu và tiền trả hàng tuần được khắc trên đầu kia.
Đến năm 1951, thẻ ngân hàng mới ra đời. Cha đẻ của nó là Frank X McNamara, một doanh nhân người Mỹ sáng chế. Có một lần sau khi dùng bữa tối tại một nhà hàng ở New York, ông Namara bổng phát hiện mình không mang theo tiền mặt. Ông phải gọi điện thoại cho vợ mình mang tiền đến để thanh toán.
Tình trạng khó xử lần đó khiến ông mày mò chế tạo một phương tiện chi trả không dùng tiền mặt trong những trường hợp tương tự như trên. Công ty của Frank X. McNamara phát hành 200 thẻ đầu tiên, và tất nhiên thứ sản phẩm “xa xỉ” này chỉ để dành cho những người có tiếng tăm trong xã hội New York. Tính năng duy nhất của nó là thanh toán hoá đơn ở 27 nhà hàng sang trọng của New York bây giờ.
Đó là những chiếc thẻ có tên là Diner’s Club (câu lac bộ ăn uống). Theo chân Diner’s Club công ty American Express cũng phát hành thẻ mang tên mình. Thẻ American Express mở rộng tính năng thêm một chút là cho phép thanh toán các dịch vụ du lịch. Tuy nhiên đối tượng khách hàng của nó vẫn chỉ hạn chế ở nhóm nhỏ những người giàu có.
Rồi dần dà, sự tiện lợi của thẻ tín dụng khiến các công ty nhảy vào cuộc đua phát hành chung. Sears GVHD : PGS.TS Trần Huy Hoàng HVTH : Phạm Thị Thanh Bình – NH Ngày 2 – K15 123doc 14 có thẻ Sears để mua hàng ở Sears, Shell có thẻ Shell để đổ xăng ở các cây xăng Shell… Các ngân hàng lớn nhỏ của Mỹ cũng không chịu đứng ngoài cuộc, dù những thẻ tín dụng họ phát hành vẫn chỉ có thể dùng tại các cửa hàng bán lẻ địa phương và bản quyền phải thuộc về Bank of America. Cái thẻ ra đời thì tiện nhưng việc xử lý các giao dịch cho từng tài khoản thì phức tạp vô cùng. Các loại hoá đơn vẫn toàn bằng giấy tờ, mỗi giao dịch thẻ mất hết cả vài chục phút nên hệ thống ngân hàng bị quá tải, nhiều hiệp hội thẻ tín dụng như Interlink Association, Western State Bank Card Association hay National Bank Americard Inc … đã ra đời.
Để cho mọi việc đơn giản hơn, tất cả các loại thẻ tín dụng ngân hàng đều quy tụ về thẻ Bank Americard hoặc MasterCharge Card. Mọi sự bắt đầu ổn thỏa hơn. Tuy nhiên thời hoàng kim của thẻ tín dụng chỉ thực sự bắt đầu vào những năm 1970, khi kỹ thuật điện toán, hệ thống tiêu chuẩn băng từ và máy tính ra đời. Kỹ nghệ thẻ tín dụng thênh thang rẽ sang con đường mới.
Bây giờ thì những cái tên như Visa hay Master Card đã nằm trong danh sách những thương hiệu nổi tiếng nhất hành tinh. Chúng góp phần làm cho các quốc gia gần nhau hơn. Thế giới rõ ràng đã trở nên nhỏ bé và thân thiện hơn khi người ta có thể đi từ châu Âu sang châu Mỹ, đến lục địa đen về châu Á, chỉ với một vài tấm thẻ trên tay. Sự phát triển của thẻ ngân hàng.
Do thẻ ngày càng được sử dụng rộng rãi, các công ty và ngân hàng liên kết với nhau để khai thác lĩnh vực thu nhiều lợi nhuận này. Thẻ dần dần được xem như một công cụ văn minh, thuận lợi trong các cuộc giao dịch mua bán. Các loại thẻ Master, Visa, Diners Club, JBC, American Express (Amex) được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu và các loại thẻ thay nhau phân chia những thị trường rộng lớn. Thẻ Diners Club, thẻ du lịch và giải trí T&E (Travel & Entertainment) GVHD : PGS.