Phần mở đầu - Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ SẢN PHẨM DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI - Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ TẠI CÁC CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VÙNG TÂY NAM BỘ - Chƣơng 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ TẠI CÁC CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VÙNG TÂY NAM BỘ - Kết luận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ SẢN PHẨM DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại (NHTM): 1.1 Định nghĩa về NHTM: Từ thời thƣợng cổ đã bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu của sự hình thành ngân hàng sơ khai, nó gắn liền với sự hình thành và phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Ban đầu hàng hóa đƣợc gửi tại “ngân hàng” là các sản phẩm nông nghiệp, kim loại quý nhƣ vàng và “ngân hàng” ở đây là những đền thờ tại Ai Cập và Mesopotamia. Tới đầu thế kỷ XVIII trƣớc công nguyên tại Babylon, do nhu cầu thực tế trong giao thƣơng, thầy tu trong các đền thờ bắt đầu cho các nhà buôn mƣợn tài sản cất trữ trong đền, từ đó có thể coi khái niệm “ngân hàng” ra đời. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, khoa học kỹ thuật, hệ thống NHTM phát triển mạnh mẽ đặc biệt là từ cuối thế kỷ XIX.
Ở Việt Nam, theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 đã đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 có định nghĩa về NHTM nhƣ sau: “Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Rộng hơn nữa Luật cũng định nghĩa: Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân”. Vậy “Hoạt động ngân hàng” trong định nghĩa về NHTM nói trên là gì? Luật Ngân hàng Nhà nƣớc năm 2010 đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 có định nghĩa: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 Sự khác biệt giữa NHTM và TCTD phi ngân hàng là: TCTD phi ngân hàng chỉ đƣợc thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng; trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng.2 Chức năng của NHTM: Có thể thấy trong nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa nhƣ ở nƣớc ta hiện nay, hệ thống NHTM đã và đang thực hiện 3 chức năng quan trọng sau: Chức năng làm trung gian tín dụng; chức năng làm trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền. Chức năng trung gian tín dụng: Đây là chức năng chủ yếu và quan trọng của NHTM, với chức năng này NHTM là “cầu nối” giữa ngƣời có vốn dƣ thừa và ngƣời có nhu cầu về vốn. Thông qua hoạt động tín dụng, các NHTM đã và đang thực hiện chức năng xã hội của mình, đƣa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cƣ và các tổ chức phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh, tiêu dùng, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Chức năng làm trung gian thanh toán: Với chức năng này NHTM đáp ứng mọi nhu cầu thanh toán của khách hàng nhƣ: trích tiền từ tài khoản thanh toán của khách hàng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc ngƣợc lại là thu tiền bán hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng.
Qua đó góp phần tiết giảm chi phí và đảm bảo an toàn trong các giao dịch thƣơng mại, đẩy nhanh tốc độ lƣu thông hàng hóa, luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội. Chức năng tạo tiền: Chức năng tạo tiền là chức năng riêng có của hoạt động tín dụng ngân hàng, NHTM tạo tiền bằng cách tạo ra bút tệ (tiền ghi sổ). Giả sử các NHTM không giữ lại tiền dự trữ quá mức, các tờ séc không bị chuyển thành tiền mặt và các yếu tố phức tạp khác đƣợc bỏ qua, thì quá trình tạo tiền bút tệ là việc biến mức tiền gửi ban đầu tại một ngân hàng đầu tiên nhận tiền gửi thành một khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần khi thực hiện các nghiệp vụ tín dụng và thanh toán qua nhiều ngân hàng. Chức năng này chỉ thực hiện đƣợc nếu vốn mà ngân hàng huy động đã đƣợc cho vay và số tiền vay đó phải luân chuyển trong hệ thống ngân hàng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Tóm lại, các chức năng của NHTM có mối quan hệ biện chứng, bổ sung và hỗ trợ nhau. Qua đó, NHTM đã khẳng định vị trí quan trọng của mình trong nền kinh tế. Ngày nay các NHTM có sự đầu tƣ mạnh mẽ về công nghệ nhằm ứng dụng và đa dạng hóa các SPDV, đáp ứng đƣợc nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.3 Phân loại NHTM: 1.1 Dựa vào hình thức sở hữu: Với tiêu thức này, có thể phân loại NHTM thành 5 loại NHTM: NHTM quốc doanh (Nhà nƣớc); NHTM cổ phần; NHTM liên doanh; Chi nhánh NHTM nƣớc ngoài; NHTM 100% vốn của nƣớc ngoài. Ngoài sự khác biệt về hình thức sở hữu, các loại NHTM này còn có sự khác nhau về một số hoạt động do tác động của những quy định chi phối bởi Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.2 Dựa vào chiến lƣợc kinh doanh: Với tiêu thức này và mối quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng, có thể chia NHTM thành 3 loại: Ngân hàng bán buôn; Ngân hàng bán lẻ; Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ.
Hầu hết các NHTM Việt Nam hiện nay đều thuộc loại hình ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ. Đến nay, do cam kết mở cửa các hoạt động dịch vụ ngân hàng theo WTO nên các chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài cũng đã đƣợc phép cung ứng các dịch vụ ngân hàng bán lẻ cho khách hàng cá nhân.3 Dựa vào quan hệ tổ chức: Với tiêu thức này có thể chia NHTM thành ngân hàng hội sở, ngân hàng chi nhánh (hạng 1 và hạng 2) và phòng giao dịch. Ngân hàng hội sở là đơn vị tập trung quyền lực cao nhất và là nơi cung cấp đầy đủ hơn các sản phẩm dịch vụ ngân hàng trong khi các ngân hàng chi nhánh và phòng giao dịch có quy mô nhỏ hơn và cung cấp không đầy đủ tất cả các dịch vụ ngân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đặc biệt đối với các phòng giao dịch còn bị hạn chế cung ứng một số dịch vụ phức tạp có mức độ rủi ro cao so với phạm vi hoạt động.4 Phân loại các nghiệp vụ của NHTM: 1.1 Dựa vào bảng cân đối tài sản: Bảng cân đối tài sản là bảng báo cáo tổng hợp về tình hình tài sản và nguồn vốn của NHTM tại một thời điểm nhất định nào đó.
Khi phân tích bảng cân đối tài sản chúng ta có thể hệ thống hóa đƣợc một số nghiệp vụ chủ yếu của NHTM thông qua các con số. Có thể phân thành hai nhóm nghiệp vụ sau: Nghiệp vụ nội bảng: Là những nghiệp vụ đƣợc phản ánh trên bảng cân đối tài sản. Các nghiệp vụ nội bảng cũng đƣợc chia thành hai nhóm nghiệp vụ: - Các nghiệp vụ tài sản Nợ gồm các nghiệp vụ chủ yếu nhƣ là tiền gửi khách hàng (tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm); tiền gửi, tiền vay các tổ chức tín dụng khác, tiền gửi ngân hàng Nhà nƣớc, Kho bạc Nhà nƣớc; vay ngân hàng Nhà nƣớc, vay bằng cách phát hành trái phiếu, kỳ phiếu. - Các nghiệp vụ tài sản Có bao gồm các nghiệp vụ chủ yếu nhƣ là cho vay khách hàng thông thƣờng, đầu tƣ chứng khoán, cho vay các tổ chức tín dụng khác.
Nghiệp vụ ngoại bảng: Là các nghiệp vụ không đƣợc phản ánh trên bảng cân đối tài sản của NHTM, chủ yếu là các hoạt động dịch vụ và bảo lãnh ngân hàng. Với cách phân loại này có hạn chế là chủ yếu chỉ phản ánh các nghiệp vụ ngân hàng truyền thống, trong khi đối với một ngân hàng hiện đại thì các nghiệp vụ ngân hàng ngoại bảng thƣờng chiếm tỷ trọng lớn nhƣng lại không đƣợc phản ánh trên bảng cân đối tài sản.2 Dựa vào đối tƣợng khách hàng: Thông thƣờng các ngân hàng hiện đại ngày nay phân loại nghiệp vụ của mình dựa vào đối tƣợng khách hàng để từ đó dễ dàng tiếp cận và có chiến lƣợc phục vụ khách hàng tốt hơn. Theo đó có thể chia thành hai nhóm nghiệp vụ là nghiệp vụ đối với khách hàng công ty (doanh nghiệp) và nghiệp vụ đối với khách hàng cá nhân. Hiện ACB và SacomBank phân chia nghiệp vụ theo tiêu thức này.2 Tổng quan về sản phẩm dịch vụ ngân hàng: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Khái niệm về sản phẩm, dịch vụ, dịch vụ ngân hàng: Sản phẩm là gì? Theo tác giả Kotler và Amstrong trong cuốn Nguyên lý Marketing, sản phẩm là bất kỳ thứ gì có thể đƣa ra thị trƣờng để thu hút sự chú ý, đƣợc mua về sử dụng hay tiêu dùng mà có thể thỏa mãn mong muốn hay nhu cầu.
Sản phẩm không chỉ là những hàng hóa hữu hình mà còn bao gồm các dịch vụ, sự kiện, ý tƣởng và tổ hợp các thực thể này. Và cũng theo tác giả dịch vụ là một dạng sản phẩm bao gồm các hoạt động, các lợi ích hay sự thỏa mãn đƣợc chào bán mà thực chất là vô hình và không dẫn đến sự sở hữu vật cụ thể gì cả. Thực tế hiện nay ở nƣớc ta chƣa có khái niệm cụ thể nào về dịch vụ ngân hàng hay sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Hiện có hai quan niệm về dịch vụ ngân hàng nhƣ sau: Một là, dịch vụ ngân hàng không bao gồm các hoạt động huy động vốn và cho vay.
Các hoạt động về thanh toán, thu hộ, ủy thác, môi giới chứng khoán.mới đƣợc gọi là dịch vụ. Với quan niệm nhƣ vậy, các chỉ tiêu đánh giá về thu từ hoạt động của NHTM thông thƣờng cũng đƣợc chia thành hai nhóm là thu từ hoạt động tín dụng và thu từ hoạt động dịch vụ.