Chương 1 : Tổng quan về lưới điệ n Thành phố Hồ Chí Minh cơ hội tham giá quản lý và kiểm soát việc sử dụng năng lượng điện của chính họ, đồng thời cũng cung cấp cơ hội tiết kiệm chi phí sử dụng điện cho chính bản thân khách hàng. Các mục tiêu liên quan đến yếu tố môi trường và chính phủ. Trong khi các nguồn năng lượng sơ cấp hóa thạch đang dần cạn kiệt thì nhu cầu về điện vẫn phát triển ở mức độ cao. Do vậy, Smart Grid với tính năng cho phép tích hợp các nguồn năng lượng phân tán (năng lượng mới, năng lượng tái tạo…) sẽ góp phần bù đắp sự thiếu hụt năng lượng từ các nguồn năng lượng truyền thống.
Qua đó, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng. Đồng thời, tính năng này của Smart Grid sẽ thúc đẩy sự phát triển của ngành năng lượng sạch, năng lượng tái tạo để góp phần đạt mục tiêu chiếm tỷ trọng 1,74% vào năm 2020 của TP.Hồ Chí Minh.3 Các chương trình chính. Chương trình tăng cường hiệu quả vận hành lưới điện: Hoàn thiện hệ thống đọc dữ liệu tự động tại các Trạm biến áp 110kV; Hệ thống giám sát vận hành lưới điện 110kV; Trạm biến áp 110kV điều khiển từ xa; Hệ thống SCADA/DMS; Dự án nghiêng cứu phụ tải và điều khiển phụ tải; Hạ tầng Công nghệ Thông tin và Viễn thông. Chương trình đào tạo: Kế hoạch đào tạo nâng cao năng lực thực hiện Lưới điện thông minh; Nghiên c ứu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm nước ngoài.
Dự án thử nghiệm: Hạ tầng đo đếm tiến tiến AMI. Chương trình phổ biến Lưới điện thông minh cho cộng đồng.4 Lộ trình triển khai các thành phần Smart Grid của EVNHCMC. Liên quan đến mạng điện hạ áp, Tổng công ty Điện lực TP.Hồ Chí Minh đã xây dựng lộ trình triển khai lưới điện thông minh và đang triển khai hạ tầng đo đếm tiên tiến (AMI) với quy mô 60.000 điện kế thông minh. Các hạng mục triển khai hệ thống AMI gồm: AMI là hệ thống bao gồm các điện kế thông minh (Smart Meters), hệ thống quản lý dữ liệu điện kế (MDMS), hạ tầng truyền thông (Communication) và các thiết bị tương tác với người dùng (Consumer display).
AMI v ới tính năng cho phép 10 Chương 1 : Tổng quan về lưới điệ n Thành phố Hồ Chí Minh trao đổi thông tin 2 chiều giữa các đơn vị cung cấp điện và người tiêu thụ, có nhiệm vụ đo đếm và phân tích mức độ tiêu thụ điện theo yêu cầu tức thời hoặc theo một kế hoạch được lập trình sẵn. Nghĩa là AMI tạo môi trường cho khách hàng được quyền chủ động trong việc sử dụng dịch vụ cung ứng điện. Đầu tư mới điện kế thông minh (Smart meter) ho ặc lắp đặt bổ sung modem cho các điện kế điện tử hiện có để thu thập và truyền dữ liệu từ xa. Nhằm đáp ứng nhu cầu về sử dụng điện, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng ngày càng tốt hơn.
Do đó, việc ứng dụng công nghệ mới công tơ điện tử trong đo đếm điện năng là xu thế tất yếu của thời đại công nghệ thông tin. Chuyển đổi số đếm từ công tơ cơ truyền thống thành dạng thức dữ liệu số có thể lưu trữ và tính toán. Tích hợp các thành phần phần cứng cho phép mở rộng bổ xung thêm các chức năng mới cho công tơ truyền thống. Chuyển trạng thái vòng quay thành tín hi ệu xung điện bằng các cơ cấu như : bộ ghép quang điện, xung điện từ… Các thành phần bổ xung gồm có: các chíp xử lý, IC vi điều khiển, mạch ghép truyền thông, IC nhớ, IC đồng hồ thời gian thực … Việc điện tử hóa công tơ truyền thống là cách thức tiếp cận nhanh nhất để có sản phẩm ra thị trường.
Việc điện tử hóa tạo ra công tơ điện năng mới nhưng nguyên lý đo chính vẫn là nguyên lý truyền thống, vì thế vấn đề sai số nguyên lý không gặp phải và không tạo thành vấn đề đáng quan tâm. Cơ chế đo kiểu truyền thống cũng giúp cho sự kế thừa tính tin cậy của công tơ truyền thống đã được khẳng định theo thời gian. Các kỹ thuật và công nghệ bổ xung không quá mới và phức tạp, mặt khác các kỹ thuật mạch này lại có nhiều sản phẩm đầu vào cạnh tranh, làm tăng cường khả năng lựa chọn công nghệ và kỹ thuật tối ưu với chi phí giá thành hợp lý. Việc điện tử hóa vẫn đảm bảo các tính năng phát triển cho công tơ mới, yêu cầu: - Phải có sự gắn kết nghiên cứu giữa công ty chế tạo sản phẩm cơ truyền thống với đơn vị nghiên cứu phát triển.
11 Chương 1 : Tổng quan về lưới điệ n Thành phố Hồ Chí Minh - Phải nghiên cứu chi phí giá thành của nguyên lý đo lường cơ điện kiểu cũ, so sánh với giải pháp nguyên lý đo lường khác tiên tiến hơn. Đối với các thiết bị đo lường nói chung và thiết bị công tơ đo lường điện năng nói riêng, việc chuẩn hóa thiết bị là một bước rất quan trọng. Chuẩn hóa thiết bị là tiến hành các bước hiệu chỉnh các tham số điều khiển tiến trình đo lường sao cho giá trị kết quả đo có sai số nhỏ nhất với giá trị thực của đối tượng cần đo. Đối với công tơ điện tử sử dụng chip STPM01, việc chuẩn hóa kết quả đo điện năng được tiến hành bởi việc điều chỉnh giá trị của các tín hiệu điện áp và dòng điện đầu vào.
Do việc tính toán điện năng được thực hiện bởi các khối DSP theo các thuật toán xử lý số nên kết quả đầu ra được hiệu chỉnh chỉ bởi việc thay đổi giá trị đầu vào. Để hiệu chỉnh giá trị đo hiệu dụng điện áp và dòng điện, chip STPM01 cho phép hiệu chỉnh giá trị đo đầu vào trong khoảng +/-12.5% với số mức thay đổi là 256 mức. Về nguyên tắc khi giá trị hiệu dụng chính xác và không có lệch pha giữa dòng điện va điện áp thì chỉ số năng lượng đầu ra đo được cũng phải chính xác bởi tích số của dòng, áp và thời gian. Tuy nhiên do ảnh hưởng của các mạch đầu vào có thể gây ra lệch pha giữa dòng điện và điện áp, và với giới hạn lệch pha không lớn thì thiết bị có thể điều chỉnh bù pha.
Việc điều chỉnh bù pha được thực hiện bởi quá trình truyền tham số vào thanh ghi bù pha, với số mức là 16. Việc tính giá trị bù và ghi dữ liệu này vào ô nhớ cấu hình có thể được thực hiện tự động và thực hiện theo nhiều bước, nhằm đạt được mức sai số đo lường nhỏ nhất. Trong quá trình chuẩn hóa, vai trò của giá trị chuẩn là rất quan trọng. Giá trị chuẩn bao gồm : điện áp chuẩn, dòng điện chuẩn và điện năng đo chuẩn.
Dựa trên việc so sánh giá trị chuẩn với các giá trị đo của thiết bị, mới có cơ sở so sánh để tính được hệ số bù sai mới. Việc chuẩn hóa phải được tiến hành theo quy trình và th ực hiện một cách tự đồng. 12 Chương 1 : Tổng quan về lưới điệ n Thành phố Hồ Chí Minh - Nghiên cứu lựa chọn công nghệ truyền tin phù hợp (kể cả bộ tập trung dữ liệu tương ứng – data concentrator unit). Bộ tập trung dữ liệu, hệ thống tự động thu thập và quản lý dữ liệu chỉ số điện kế từ xa đối với các khách hàng sử dụng điện kế điện tử một pha RF, với số lượng đọc thành công khoảng 15 điện kế/concentrator.
Bộ tập trung dữ liệu dùng để trao đổi dữ liệu với các thiết bị khác trong hệ thống bằng công nghệ PLC. Bộ tập trung tiếp nhận, xử lý, lưu giữ và truyền dữ liệu về máy tính trung tâm thông qua đường RS232 hoặc GPRS. Mỗi Bộ tập trung quản lý được 250 thiết bị. - Nghiên cứu tự xây dựng hoặc đầu tư trang bị phần mềm quản lý dữ liệu đo đếm (MDMS) cùng với hệ thống máy tính chủ.
- Nghiên cứu kết nối AMI với các hệ thống ứng dụng khác (theo mô hình kết nối) thông qua MDMS. Trên thực tế, việc phát triển năng lượng tái tạo là chủ trương mang tính xã hội hóa cao cần khuyến khích sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế với mục đích thúc đẩy sử dụngnăng lượng xanh, bảo vệ môi trường, giải quyết vấn đề việc làm, an sinh xã hội, phát triển văn minh đô thị. Với đặc thù của thành phố Hồ Chí Minh thì các nguồn năng lượng tái tạo có tiềm năng phát triển là: - Năng lượng mặt trời (đặc biệt cần quan tâm đến hệ thống pin năng lượng mặt trời trên các tòa cao ốc). - Năng lượng sinh khối, rác thải.
- Năng lượng gió. Đối với khu vực ngoại thành, cần phát triển các dự án năng lượng tái tạo có quy mô tập trung và có đấu nối vào lưới điện quốc gia. Nhóm hạ tầng SCADA/SA/DA. Hệ thống SCADA.
Hệ thống SCADA của Tổng công ty Điện lực TP.Hồ Chí Minh được đầu tư và xây dựng trong 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 từ năm 1993 đến năm 1998; giai đoạn 2 từ năm 1999 đến nay, bao gồm hệ thống điều khiển trung tâm, hệ thống truyền tin và 13 Chương 1 : Tổng quan về lưới điệ n Thành phố Hồ Chí Minh hệ thống các RTU/Gateway: (i) hệ thống điều khiển trung tâm hiện hữu không hỗ trợ giao thức theo quy định của Tập đoàn (IEC 60870-5-101), không lưu trữ được dữ liệu quá khứ, thiếu chức năng DMS, (ii) hệ thống truyền tin hiện hữu là hệ thống cáp quang mạch vòng, các thiết bị được cấu hình và quản lý từ trung tâm, (iii) hệ thống RTU/Gateway thì số lượng trạm 110 KV có kết nối SCADA là 22/39 trạm (chiếm 56% tổng số trạm), số lượng trạm không có kết nối SCADA là 17/39 trạm (chiếm 44% tổng số trạm). Đối với lưới điện phân phối, số lượng trạm ngắt 15 kV có kết nối SCADA là 18/25 trạm (chiếm 72% tổng số trạm). Các thiết bị đóng cắt lưới phân phối như Recloser, LBS, RMU chưa được trang bị RTU để kết nối hệ thống SCADA. Tự động hóa trạm.
Tổng công ty Điện lực TP.Hồ Chí Minh đã xây dựng tiêu chí về mặt kỹ thuật đối với hệ thống tự động hóa trạm và đang từng bước hoàn thiện các tiêu chí trạm không người trực. Tuy nhiên, về cơ sở pháp lý, hiện nay chưa có quy định về việc áp dụng trạm biến áp không người trực cấp điện áp 110 kV nên Tổng công ty Điện lực TP.Hồ Chí Minh chưa thực hiện thí điểm trạm không người trực nào trên địa bàn quản lý.