Chương 1: Tổng quan về hoạt động kinh doanh thẻ GVHD: TS. Đặng Anh Tuấn 2 Ma SV: 11133781 Chuyên đề thực tập SVTH: Nguyễn Diệu Thùy Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thuong tín — Chi nhánh Thanh Trì Chương 3: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín — Chi nhánh Thanh Trì GVHD: TS. Đặng Anh Tuấn 3 Ma SV: 11133781 Chuyên đề thực tập SVTH: Nguyễn Diệu Thùy — ee EE NQuyelen Dieu Thuy CHUONG 1 TONG QUAN VE HOAT DONG KINH DOANH THE 1. Giới thiệu chung về hoạt động kinh doanh thẻ 1.
Lịch sử hình thành và phát triển thẻ Thẻ ngân hàng được hình thành tại Mỹ từ thói quen cho khách hàng mua chịu của các chủ tiệm bán lẻ trên cơ sở tín nhiệm khách hàng. Các tổ chức tài chính đã hình thành những ý tưởng về thẻ nhờ yếu tố này. Hình thức sơ khai của thẻ xuất hiện lần đầu ở Mỹ vào những năm 1920 dưới cái tên tạm gọi là “đĩa mua hàng” (shooper’s plate). Người sở hữu loại đĩa này có thể mua hàng tại cửa hiệu phát hành ra chúng và phải hoàn trả tiền cho chủ cửa hàng vào một ngày có định hàng tháng.
Tuy nhiên thẻ ngân hàng lại ra đời một cách ngẫu nhiên vào năm 1940 với tên gọi đầu tiên là thẻ DINNERS CLUB do ý tưởng của một doanh nhân người Mỹ là Frank Mc Namara. Ông kể lại rằng ý tưởng của ông xuất phát từ sự việc ông phải cam kết thanh toán cho một nhà hàng khi ông đi ăn mà quên không mang theo ví. Năm 1950 chiếc thẻ nhựa đầu tiên được phát hành, những người có thẻ DINNERS CLUB này có thể thanh toán khi ăn tại 27 nhà hàng tại thành phố New York và phải chịu một khoản lệ phsi hàng năm là 5 USD. Những tiện ích của chiếc thẻ này ngay lập tức gây chú ý và đã chinh phục được một lượng đông đảo khách hàng.
Đến năm 1952, hơn 1 triệu USD được thanh toán, doanh số phát hàng thẻ ngày càng tang và công ty phát hành thẻ DINNERS CLUB bắt đầu có lãi. Một cuộc cách mạng về thẻ diễn ra ngay sau đó và đưa thẻ trở thành phương tiện thanh toán mang tính toàn cầu. Tiếp nối thành công của DINNERS CLUB, hàng loạt công ty thẻ như Trip Change, Golden Key, Esquire Club. Phần lớn cá thẻ này được phát hành nhằm phục vụ giới doanh nhân, nhưng sau đó các ngân hàng nhận tháy tầng lớp bình dân mới là các đối tượng sử dụng thẻ chính trng tương lai.
Năm 1960, Bank of America cho ra đời sản phẩm thẻ đầu tiên của mình là BANKMERICARD. Đến năm 1966, 14 ngân hàng hàng đầu của Mỹ thành lập Interbank, một tổ chức mới với chức năng là đầu mối trao đổi các thông tin về giao dịch thẻ. Ngay sau đó, vào năm 1967, 4 ngân hàng bang California đổi tên từ Bank Card Association thành Western State bank Association và tổ chức này đã liên kết với Interbank cho ra đời sản phẩm thẻ MASTER CHARGE. Loại thẻ này đã nhanh chóng trở thành một đối thủ cạnh tranh lớn của BANKAMERICARD.
Đến nă m 1977, tổ chức BANKAMERICARD đồi tên thành VISA USD và sau đó là tổ chức S S S GVHD: TS. Dang Anh Tuấn 4 Ma SV: 11133781 Chuyên đề thực tập SVTH: Nguyễn Diệu Thùy thẻ quốc tế VISA. Năm 1979, tổ chức thẻ MASTER CHARGE đổi tên thành Master Card. Hình thức thanh toán thẻ nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi ở các châu lục khác.
Năm 1960 chiếc thẻ nhựa đầu tiên có mặt tại Nhật Bản báo hiệu sự phát triển của thẻ ở châu Á. Chiếc thẻ nhựa đầu tiên do ngân hàng Barcalay Bank phát hành ở Anh năm 1966 cũng mở ra một thời kì sôi động cho hoạt động thanh toán thẻ tại Châu Âu. Tại Việt Nam, chiếc thẻ đầu tiên được chấp nhận là vào năm 1990 khi Vietcombank ký kết hợp đồng làm đại lí trả thẻ VISA với ngân hàng Pháp BFCE và đây là bước khởi đầu cho dịch vụ này phát triển tại Việt Nam. Ngày nay, thẻ ngân hàng xuất hiện khắp nơi trên thế giới với nhiều hình thức và chủng loại, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng.
Cùng với sự phát triển của 2 tổ chức thẻ quốc tế là VISA và MASTER, một loại các tổ chức thẻ khác nối tiếp ra đời như: JCB, American Epress, Airplus, Maestro, Eurocard. Sự phát triển mạnh mẽ này đã khẳng định xu thế phát triển tất yếu của thẻ. Các ngân hàng và tổ chức tài chính luôn tìm cách cải thiện sản phẩm thẻ của mình để cung cấp những dịch vụ tốt nhất cho khách hàng. Tình hình chung về thị trường thé tại Việt Nam những năm gần đây Thị trường thẻ Việt Nam đang dan tiến tới bão hoà khi mà tốc độ tăng số lượng thẻ giảm rõ rệt.
Nếu như giai đoạn 2010-2015, số lượng thẻ tăng trưởng trung bình khoảng 30% thì đến nay, chỉ tăng trên 4%, mặc dù các ngân hàng vẫn tiếp tục triển khai nhiều chương trình ưu đãi phát hành thẻ mới. Thực tế này khiến cho các ngân hàng phải tìm ra những cách thu hút khách mới mẻ và sáng tạo hơn ngoài cách ưu đãi giảm giá, mà phần nhiều là tương đương như nhau. Phát hành thẻ đồng thương hiệu được coi là một cách làm hay. Chang han nhu, Seabank phat hành thẻ đồng thương hiệu Visa SeaBank Mobile phone.
Thực chat, thẻ đồng thương hiệu vẫn là thẻ VISA do Sea Bank phát hành, ngoài tính năng thông thường còn cho phép hội viên hưởng các ưu đãi hấp dẫn của chương trình khách hàng thân thiết của MobiFone. Hay như thẻ Visa Sacombank Vietnam Airlines, cho phép khách hàng của Sacombank tích điểm mỗi khi giao dịch bằng thẻ, và đối điểm thành dặm bay miễn phí. Thẻ đồng thương hiệu mang lại lợi ích lớn hơn cho chủ thẻ, đặc biệt là những người thường sử dụng dịch vụ cua DN đối tác — như đi lại bằng đường hàng không, —_—————m mmmm xa. Đặng Anh Tuấn 3 Ma SV: 11133781 Chuyên đề thực tập SVTH: Nguyễn Diệu Thùy hoặc dùng Mobile phone.
Ngân hàng có thể mở rộng thị phần nhờ tiếp cận được cơ sở khách hàng của DN. Còn DN được ngân hàng hỗ trợ trong công tác quản lý thông tin khách hàng, đồng thời tiết kiệm chi phí nhờ thanh toán không dùng tiền mặt. Gần đây, khách hàng đánh giá cao xu hướng ngân hàng đầu tư mạnh cho dịch vu gia tăng tiện ích cho khách hàng. Đối với Sacombank, nắm bắt được tâm lý khách hàng có thẻ Visa Platinum, những người có thu nhập cao và thường xuyên phải đi công tác, du lịch, thường cần được trợ giúp thông tin về khách sạn, mua sắm, ẩm thực, giải trí, y té,.
ở nước ngoài, Sacombank đã đăng ký dịch vụ Concierge với một hãng cung cấp trên toàn cầu, dịch vụ được cung cấp 24/7, miễn phí hoàn toàn, đặc biệt trợ giúp bằng tiếng việt cho khách hàng. Với dịch vụ Concierge, thẻ Sacombank Visa Platinum không còn chỉ là chiếc thẻ với dịch vụ thanh toán đơn thuần, mà là một trợ lý riêng thực thụ sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu hỗ trợ về thời trang, du lịch, thể thao cho đến giải trí theo cách chuyên nghiệp nhất. Giám đốc điều hành CTCP Nhựa Đức Tiến chia sẻ một kỷ niệm đáng nhớ với dịch vụ Concierge của Sacombank. Chuyện là, hè vừa qua Công ty anh tổ chức chuyến du lịch Thái Lan cho đoàn đối tác gồm các đại lý phân phối sản phẩm.
Do bat cần, nhân viên Công ty đặt vé sai ngày về và cả đoàn bị nhỡ chuyến bay về. Trước giờ ra sân bay vài tiếng, bộ phận đối ngoại của Công ty mới phát hiện ra sai sót này và tá hỏa gọi điện hỏi phòng vé mà chỉ nhận được câu trả lời trong ngày không có chuyến bay nào gần nhất. Trong tình huống khẩn cấp, anh Bảo bấm máy hỏi dịch vụ Concierge, chỉ 15 phút sau, anh đã có được thông tin về chuyến bay gần nhất trong ngày của Thái Airlines vẫn còn đủ chỗ cho 10 người, ngay lập tức qua concierge, Công ty đặt vé xong. Trở về Việt Nam, các đối tác đều đánh gia cao công tác tổ chức, chuyến đi thành công ngoài mong đợi, Ban tổ chức thở phào - may có Concierge mà hóa giải được “tai nạn nhằm vé”.
Bấy lâu nay, chỉ những thương hiệu lớn, đăng cấp mới cung cấp dịch vụ Concierge cho khách hang, đơn cử như Vertu, các tập đoàn khách sạn hạng sang trên thế giới.nay việc ngân hàng Việt tiên phong tạo ra các giá trị gia tăng cho khách hàng thông qua Concierge là một nét mới. Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, để giành lấy thị phần, các ngân hàng không thẻ chỉ tập trung tăng số lượng, mà còn phải chú trọng phát triển về chiều sâu, cải thiện, nâng cao chất lượng và đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ GVHD: TS. Đặng Anh Tuấn 6 Ma SV: 11133781 Chuyên đề thực tập SVTH: Nguyễn Diệu Thùy thẻ. Lắng nghe, nắm bắt nhu cầu khách hàng và cung cấp dịch vụ để họ có trải nghiệm cuộc sống tiện nghỉ và thoải mái nhất — đây là một xu hướng cạnh tranh hứa hẹn nhiều tiềm năng.
Với xu hướng này, khách hàng sẽ được hưởng nhiều lợi ích, bên cạnh những dịch vụ giao dịch tiền tệ đơn thuần. Để bắt kịp với xu hướng thế giới và để việc thanh toán nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chỉ phí, thời gian, các NHTM đang chú trọng phát triển thẻ ngân hàng trở thành phương tiện thanh toán phổ biến tại Việt Nam. Một số năm trở lại đây, tỷ trọng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán đáng có xu hướng giảm dan qua từng năm. Bên cạnh đó, dịch vụ ngân hàng và mở tài khoản cá nhân phát triển nhanh chóng.1 Tỷ trọng thanh toán bằng tiền mặt so với tông phương tiện thanh toán | ỜMm | 2| 3| 26] 2.
Tỷ lệ (%) 18,50 16,36 14,60 13,78 13,62 (Nguôn: Ngân hàng Nhà nước) THANH TOAN (%) 24 22 oe Dinh hướng 18 °°, (Nguôn: Ngân hàng Nhà nước) Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt so với tông phương tiện thanh toán (vt: %) e e e GVHD: TS. Đặng Anh Tuấn 7 Ma SV: 11133781 — Chuyên đề thực tập SVTH: Nguyễn Diệu Thùy -⁄cC' ''Í NQuyen Dieu Thuy Bang 1.2 Thi phan thẻ nội dia năm 2016 y trong (%) ir (Nguon: Ngân hang Nhà nước) (Nguồn: Ngân hang Nhà nước) Bảng 1.3 Thị phần thẻ tín dụng quốc tế năm 2016 VCB Vietin | Sacom Techcom | SeAbank | Khác bank bank bank Sô lượng thẻ 175 133 122 42 (nghìn) (Nguôn: Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam) Biểu đồ 1.2 Thị phần thẻ tín dụng quốc tế năm 2016 GVHD: TS.