lời mở đầu, mục lục, danh mục các bảng biểu, danh mục các loại tài liệu tham khảo, kết luận, nội dung chính của đề tài có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về sản phẩm, dịch vụ thẻ tín dụng và phát triển dịch vụ thẻ tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam. Chƣơng 3: Giải phát phát triển dịch vụ thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam. n 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẢN PHẨM, DỊCH VỤ THẺ TÍN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ THẺ TÍN DỤNG 1. Khái niệm và đặc điểm 1. Khái niệm Thẻ là một phƣơng tiện thanh toán hiện đại thay thế cho sử dụng tiền mặt, do ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính phát hành và cấp cho khách hàng sử dụng để có thể thực hiện các dịch vụ do ngân hàng cung cấp nhƣ vấn tin số dƣ tài khoản, rút tiền hay thực hiện giao dịch thanh toán hóa đơn hàng hóa dịch vụ. Theo tính chất thanh toán, thẻ đƣợc phân biệt thành các loại nhƣ thẻ ghi nợ, thẻ trả trƣớc hay thẻ tín dụng.
Khác với thẻ ghi nợ là giao dịch thực hiện trong phạm vi số dƣ tài khoản, thẻ tín dụng là loại thẻ cho phép khách hàng giao dịch với hạn mức tín dụng đƣợc ngân hàng cấp dựa trên tín chấp hay thế chấp (tài sản ký quỹ, đảm bảo). Khách hàng sau đó sẽ thanh toán lại cho ngân hàng các khoản tiền đã thực hiện giao dịch. Theo Quy chế Phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng (Ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc): Thẻ đƣợc định nghĩa "Là phƣơng tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản đƣợc các bên thoả thuận" Thẻ tín dụng (credit card): “Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã đƣợc cấp theo thoả thuận với tổ chức phát hành thẻ.” Năm 1951, ngân hàng Franklin National Bank ở Long Island, New York, Mỹ đã phát hành thẻ tín dụng lần đầu tiên, sau sự mở đƣờng của hệ thống mua bán chịu do John Biggins sáng lập năm 1946, là hình thức sơ khai charg-it của thẻ (khách hàng trả tiền cho những giao dịch bán lẻ tại địa phƣơng, sau đó các đơn vị thanh toán nộp biên lai cho nhà băng để nhận tiền, còn nhà băng sẽ thu lại từ khách hàng sử dụng dịch vụ của họ). Tại ngân hàng Franklin, khách hàng đệ trình đơn xin vay, n 9 sau khi đƣợc thẩm định đủ tiêu chuẩn khả năng thanh toán sẽ đƣợc cấp thẻ, dùng cho thanh toán hàng hóa và dịch vụ.
Khi thanh toán, đơn vị chấp nhận thẻ ghi các thông tin của khách hàng trên thẻ vào hóa đơn. Sau đó đơn vị nhận thanh toán từ các ngân hàng phát hành thẻ cho các hóa đơn, kèm với chịu chiết khấu một t lệ nhất định để bù đắp chi phí của khoản cho vay. Từ đó, giao dịch thẻ ngày càng phát triển với sự ra đời của các tổ chức nhƣ Bank of America năm 1960, hay InterBank năm 1966, mà ngày càng nhiều tổ chức tài chính ngân hàng tham gia trở thành thành viên. Đây là tiền thân của tổ chức thẻ quốc tế Visa và Mastercard hiện nay: năm 1977 BankAmericard trở thành Visa USA và sau này là Tổ chức thẻ quốc tế Visa; năm 1979 MasterCharge trở thành tổ chức thẻ quốc tế Mastercard.
Ra đời từ phƣơng thức mua bán chịu hàng hóa, thẻ ngân hàng đã phát triển mạnh mẽ gắn liền với ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng, và sản phẩm dịch vụ thẻ là dịch vụ nổi bật trong các dịch vụ bán lẻ của ngân hàng. Đặc điểm cấu tạo Trên thị trƣờng hiện nay, thẻ nói chung cũng nhƣ thẻ tín dụng nói riêng đều đƣợc làm bằng nhựa có 3 lớp, gồm lớp nhựa trắng cứng là lõi thẻ nằm giữa 2 lớp tráng mỏng, kích thƣớc 85,60 mm x 53,98 x 0,76 mm (theo tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 7810#ID-1). Mặt trước của thẻ thường bao gồm: - Biểu tƣợng hay huy hiệu của tổ chức thẻ. - Tên và biểu tƣợng logo ngân hàng phát hành thẻ.
- Nền thẻ, màu thẻ tùy thuộc vào từng ngân hàng phát hành. Ngân hàng phát hành thƣờng thiết kế nền thẻ và màu thẻ theo từng loại sản phẩm thẻ với đặc điểm riêng nổi bật hƣớng tới các đối tƣợng khách hàng khác nhau. - Họ tên chủ thẻ, thời hạn hiệu lực của thẻ đƣợc in nổi. - Riêng loại thẻ chip thì mặt trƣớc cũng là nơi bố trí chip của thẻ.
n 10 Mặt sau của thẻ thường bao gồm: - Dải băng từ chứa thông tin đã đƣợc mã hóa theo chuẩn nhƣ số thẻ, ngày hết hạn, các yếu tố kiểm tra an toàn khác. - Ô chữ ký của chủ thẻ với yêu cầu chủ thẻ phải ký vào đấy khi nhận thẻ mới, là cơ sở để đối chiếu với chữ ký trên hóa đơn khi thanh toán hàng hóa, dịch vụ. - Các yếu tố bảo mật khác nhƣ: mã số bảo mật của thẻ CSC (Card Security Code) hay còn gọi là CVV (Card Verification Value) đối với thẻ Visa; hoặc là CVC (Card Validation Code) đối với thẻ Master, các thông tin tham chiếu nhƣ số điện thoại của ngân hàng phát hành. Phân loại thẻ tín dụng 1.
Phân loại theo công nghệ sản xuất thẻ Cũng giống nhƣ thẻ ngân hàng nói chung, thẻ tín dụng có thể đƣợc phân thành nhiều loại khác nhau theo công nghệ sản xuất. - Thẻ khắc chữ nổi (embossed card): là loại thẻ ban đầu với công nghệ khắc chữ nổi. Kỹ thuật thô sơ, bảo mật kém và dễ làm giả nên hiện nay ít đƣợc sử dụng. - Thẻ từ (magnetic stripe): là loại thẻ dựa vào công nghệ thƣ tín với hai hoặc ba băng từ chứa thông tin, thƣờng là cố định về tên chủ thẻ và dữ liệu liên quan.
Loại thẻ này có nhƣợc điểm là thông tin thẻ là cố định, dung lƣợng dữ liệu có thể lƣu trên thẻ là ít, nên tính bảo mật thông tin kém và có thể bị ăn cắp thông tin từ đó thẻ có thể bị làm giả. - Thẻ chip: là loại thẻ thông minh (smart card), đƣợc chế tạo dựa vào trên kỹ thuật vi xử lý tin học với “chip” điện tử đƣợc gắn vào thẻ có cấu trúc nhƣ một máy tính hoàn hảo, với các dung lƣợng nhớ khác nhau. Do loại thẻ này có chip nên ngoài khả năng lƣu trữ số liệu thì còn có thêm tính năng quan trọng là xử lý dữ liệu. - Thẻ không tiếp xúc: là loại thẻ với công nghệ không tiếp xúc (contactless), bao gồm công nghệ chip và ăngten nhận/phát sóng các tín hiệu, cho phép thanh toán với tốc độ cao, không cần tiếp xúc hay quẹt lên thiết bị thanh toán nhƣ các loại thẻ thông thƣờng khác.
Loại thẻ này phù hợp với các loại hình cần tốc độ thanh toán nhanh nhƣ trạm xăng, tàu điện, xe buýt… 1. Phân loại theo đối tượng sử dụng n 11 - Thẻ cá nhân: là thẻ đƣợc phát hành với chủ thẻ với tƣ cách cá nhân, thỏa mãn các điều kiện xin cấp tín dụng, đăng ký phát hành thẻ với ngân hàng. Chủ thẻ chi tiêu và chịu trách nhiệm thanh toán các khoản chi tiêu bằng nguồn tài chính của bản thân. Chủ thẻ phát hành thẻ cho mình đƣợc gọi là thẻ chính, cũng nhƣ chủ thẻ có thể yêu cầu ngân hàng phát hành thêm thẻ phụ cho ngƣời khác.
- Thẻ công ty: là thẻ tín dụng mà công ty dùng thanh toán trong hoạt động kinh doanh của mình nên đứng tên ký hợp đồng phát hành thẻ và ủy quyền cho cá nhân sử dụng, đứng tên trên thẻ. Mọi thanh toán liên quan tới thẻ đều do công ty thực hiện trực tiếp với ngân hàng. Phân loại theo phạm vi - Thẻ nội địa: là loại thẻ chỉ sử dụng với các dịch vụ trong nƣớc, không có chức năng thanh toán quốc tế. - Thẻ quốc tế: là loại thẻ không chỉ dùng đƣợc trong phạm vi quốc gia mà còn đƣợc chấp nhận sử dụng rộng rãi trên toàn cầu, do vậy thẻ cũng thƣờng là các loại thẻ mang thƣơng hiệu của các tổ chức thẻ quốc tế mà ngân hàng hợp tác cùng để phát hành nhƣ Visa, Master hay JCB.
Phân loại theo hạng thẻ Thẻ tín dụng đƣợc các ngân hàng, tham gia các tổ chức thẻ, phân loại theo các hạng thẻ khác nhau để hƣớng tới các đối tƣợng khách hàng khác nhau về thu nhập, hạn mức chi tiêu. - Thẻ chuẩn: là hạng thẻ phổ thông, hƣớng tới đối tƣợng khách hàng là ngƣời dân bình thƣờng với thu nhập vừa phải, nhu cầu sử dụng dịch vụ thanh toán thông thƣờng, hạn mức thanh toán không cao cũng nhƣ các mức phí phải chịu liên quan tới phát hành thẻ thấp. - Thẻ vàng: là hạng thẻ dành riêng cho các đối tƣợng thu nhập cao hơn, khả năng tài chính mạnh hơn và nhu cầu chi tiêu lớn hơn, nên cũng yêu cầu hạn mức cao hơn thông thƣờng. Tuy vậy, đi kèm đấy là các phí liên quan tới thẻ cũng cao hơn nhƣ phí phát hành, phí thƣờng niên.
- Thẻ bạch kim: trƣớc đây, đây là hạng thẻ cao cấp nhất với nhiều ƣu đãi dành cho chủ thẻ. Thẻ cũng thƣờng đƣợc thiết kế đẹp và đặc biệt, phù hợp với lối sống n 12 đẳng cấp và sang trọng dành riêng cho những nhóm khách hàng cao cấp nhất. Phí phát hành và phí thƣờng niên do đó cũng cao hơn các hạng thẻ trên. Nhƣng đi kèm theo đấy, các dịch vụ mua sắm, giải trí nhƣ các cửa hàng hàng hiệu đẳng cấp hay đánh golf thƣờng cũng có những ƣu đãi chiết khấu cao cho khách hàng khi sử dụng hạng thẻ này thanh toán.
- Thẻ signature, thẻ infinite: cùng với hạng thẻ bạch kim là những hạng thẻ dành cho những khách hàng VIP nhất. Trong đó các hạng thẻ này xuất hiện sau, hƣớng tới đối tƣợng khách hàng cao cấp nhất với hạn mức cao, chi tiêu lớn và đòi hỏi các dịch vụ tiện ích cao cấp kèm theo và các đặc quyền khác biệt. Kèm theo đó, khách hàng sử dụng các hạng thẻ này cũng cần đáp ứng các yêu cầu về mức thu nhập cao, chịu các mức phí liên quan lớn (nhƣ phí phát hành và phí thƣờng niên). Các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng 1.