mở đầu hoặc tiếp nối trong quá trình thanh toán đã được người thụ hưởng khởi xướng trước. Người trả tiền có nhiệm vụ phải trả đúng hạn sô tiên phải trả và phải tôn trọng những thủ tục cần thiết như lập và nộp chứng từ theo mẫu quy định và theo những thời hạn quy định hoặc được thỏa thuận trước. Người trả tiền có quyền từ chối thanh toán nếu các chủ thể khác vi phạm những cam kết hay những quy định đã thỏa thuận giữa hai bên. Người thụ hưởng là người được một khoản tiền nào đó do đã giao hàng, cung ứng dịch vụ hay do luật định hoặc do thiện chí của người khác.
Đối với người thụ hưởng là người bán hàng hay cung ứng dịch vụ cơ sở đê nhận tiền là các chứng từ hay hóa đơn giao hàng. Trong trường hợp người thụ hưởng với tư cách là tổ chức tài chính, cơ sở nhận tiền là những quy định, lệnh điêu chuyển của cấp trên. Trường hợp người thụ hưởng là chủ nợ thì cơ sở để nhận tiền 8 là các hợp đồng hay khế ước vay nợ. Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán là Ngân hàng Trung Ương, Ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức khác được làm dịch vụ thanh toán.
Thứ ba, chứng từ thanh toán Chứng từ thanh toán là các phương tiện chuyển tải những điều kiện thanh toán và được sử dụng làm căn cứ thực hiện việc chi trả. Chứng từ thanh toán gôm lệnh thu, lệnh chi do chính người thụ hưởng hay người trả tiền lập ra. Tùy theo từng hình thức thanh toán cụ thể mà các chứng từ thanh toán lập ra có những mức độ phức tạp khác nhau. Những nội dung cơ bản trên chứng từ thường là: tên, địa chỉ người trả tiền và người thụ hưởng; sổ tiền; lý do trả tiền; chữ ký và dâu (đôi với pháp nhân) của chủ tài khoản và kế toán trưởng.
Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt hiện hành Trong một nền kinh tế phát triển, quy mô thanh toán, sô lượng các tài khoản thanh toán, và khoảng cách giữa khách hàng với nhau ngày càng tăng lên nhanh chóng. Việc thanh toán trực tiếp giữa khách hàng sẽ không thể nào thỏa mãn được yêu cầu của nền kinh tế nếu không có hệ thống NHTM làm chức năng trung gian thanh toán cho các chủ thể của nền kinh tể. Dịch vụ thanh toán luôn là một trong những mảng trọng yếu để nâng cao khả năng cạnh tranh cũng như hiệu quả hoạt động của ngân hàng, do vậy dịch vụ của NHTM luôn được cải tiến và áp dụng những công nghệ mới nhất. Hiện nay trên thê giới đã nghiên cứu và áp dụng nhiều phương tiện thanh toán đa dạng và phong phú.
Nhưng tùy theo thực trạng nền kinh tế, trình độ quản lý, mức độ phát triển hệ thông ngân hàng của mỗi nước để lựa chọn sử dụng một số phương tiện cụ thê. Các phương tiện thanh toán qua ngân hàng được sử dụng phổ biến hiện nay gồm: - Séc - Lệnh chi hoặc ủy nhiệm chi - ủ y nhiệm thu hay nhờ thu 9 .:U» - Thư tín dụng - Thẻ thanh toán. Séc là phương tiện thanh toán do người ký phát lập dưới hình thức chứng từ đặcbiệt theo mẫu in sẵn, lệnh cho người thực hiện thanh toán trả không điều kiện một số tiền nhất định cho người thụ hưởng có tên trên tờ séc hoặc người cầm séc. Séc là phương tiện TTKDTM ra đời sớm và từ lâu đã được sử dụng rộng rãi cho các thanh toán trong nước và quốc tế.
Quy tắc sử dụng Séc đã được chuẩn hóa trên luật thương mại quốc gia và trên công ước Quốc tế. Các quốc gia căn cứ vào đó để xây dựng các văn bản luật và dưới luật liên quan đến séc. Các bên liên quan đến séc gồm có: người ký phát, người thụ hưởng, người thực hiện thanh toán, người thu hộ. Đặc điểm của séc là có tính thời hạn, chỉ có giá trị thanh toán trong thời gian có hiệu lực được quy định và tùy theo từng tiêu thức mà séc được phân chia thành nhiều loại.
Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng, séc có các loại: séc ký danh, séc vô danh, séc theo lệnh. Căn cứ vào nội dung thanh toán, séc có các loại: séc lĩnh tiền mặt, séc chuyển khoản, séc bảo chi. - Séc lĩnh tiền mặt: là loại séc chỉ dùng để rút tiền mặt tại ngân hàng nơi khách hàng mở tài khoản. - Séc chuyển khoản: là séc mà người ký phát séc trực tiếp giao cho người thụ hưởng ngay sau khi nhận được hàng hóa, dịch vụ.
Người thụ hưởng sẽ nộp tờ séc vào ngân hàng phục vụ mình để được thanh toán. Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng sẽ có trách nhiệm chuyển tờ séc tới ngân hàng phát hành. Trên cơ sở tờ séc họp lệ, ngân hàng phát hành sẽ trích nợ tài khoản của người phát hành, chuyển tới ngân hàng thụ hưởng để ghi có vào tài khoản của người thụ hưởng séc. 10 - Séc bảo chi: là một dạng séc chuyển khoản thông thường nhưng được ngân hàng phát hành đảm bảo khả năng chi trả bằng cách phong tỏa số tiền tương ứng với giá trị tờ séc.
Người thụ hưởng tờ séc sẽ được ngân hàng phục vụ ghi có ngay số tiền trên tờ séc. Séc là một phương tiện thanh toán đơn giản. Tuy nhiên, cho đến nay séc vẫn là một phương tiện thanh toán dựa trên cơ sở chứng từ với chi phí cao hơn so với những phương tiện thanh toán khác Mặt khác, thanh toán bằng séc có những khó khăn nhất định ở việc ứng dụng công nghệ trong thanh toán. Ngoài ra nó chịu ảnh hưởng của mối quan hệ kinh tể, độ tín nhiệm giữa bên mua và bên bán bởi vì mức độ rủi ro trong hình thức thanh toán này cao hơn các hình thức thanh toán khác, ví dụ: việc giả mạo, việc đảm bảo số dư thanh toán.
b) T h a n h to á n b ằ n g L ệ n h c h i h o ặ c ú y n h iệ m c h i ủy nhiệm Chi (UNC) là lệnh chi của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn của Ngân hàng yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình (nơi mở tài khoản) trích tiền tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng. Khi nhận được UNC, trong vòng một ngày làm việc, Ngân hàng phục vụ người trả tiền phải hoàn tất lệnh chi hoặc từ chối thực hiện nếu tài khoản của khách hàng không đủ tiền hoặc lệnh chi lập không hợp lệ. UNC có thủ tục thanh toán đơn giản, không gây phiền hà cho người trả tiền và sau một thời gian ngắn người thụ hưởng đã nhận được tiền trả mà không phải đến Ngân hàng làm thủ tục với những ưu điểm nổi bật là an toàn, thuận lợi, hiệu quả. Tuy nhiên, trong thanh toán bàng UNC - Chuyển tiền thì việc trả tiền cho người thụ hưởng là do thiện chí của người trả tiền.
Nếu người trả tiền không sòng phẳng trong thanh toán thì người thụ hưởng sẽ bị chiếm dụng vốn, người trả tiền vẫn phải đến ngân hàng để làm thủ tục trích tài khoản chuyển cho người thụ hưởng. c) T h a n h to á n b ằ n g ủ y n h iệ m th u h a y n h ờ th u ủy nhiệm thu (UNT) là giấy ủy nhiệm đòi tiền do người thụ hưởng lập gửi 11 vào ngân hàng phục vụ mình để nhờ thu tiền về số hàng hóa đã giao, dịch vụ đã cung ứng. Khi nhận được giấy UNT, trong vòng một ngày làm việc, Ngân hàng phục vụ bên trả tiền phải trích tài khoản của bên trả tiền để trả ngay cho bên thụ hưởng để hoàn tất việc thanh toán. UNT có phạm vi thanh toán rộng giúp cho các đơn vị cung cấp dịch vụ công cộng đỡ mất công đến từng nơi thu tiền.
Tuy nhiên, UNT được sử dụng cho giao dịch thanh toán có giá trị nhỏ ngoài ra thủ tục thanh toán ƯNT rất phức tạp dễ gây tình trạng người trả tiền chiếm dụng vốn của người thụ hưởng. d) T h a n h to á n b ằ n g th ư tín d ụ n g Thư tín dụng là văn bản cam kết có điều kiện được ngân hàng mở theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán (người xin mở thư tín dụng). Theo đó ngân hàng thực hiện yêu câu của người sử dụng dịch vụ thanh toán đê: + Trả tiền hay ủy quyền cho Ngân hàng khác trả tiền ngay theo lệnh của người thụ hưởng khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện của thư tín dụng hoặc: + Chấp nhận sẽ trả tiền hay ủy quyền cho Ngân hàng khác trả tiền ngay theo lệnh của người thụ hưởng vào một thời điểm nhất định trong tương lai khi nhận được bộ xuất trình phù hợp với các điều kiện thanh toán của thư tín dụng. Đ iề u k iệ n á p d ụ n g : Thư tín dụng được dùng để thanh toán tiền hàng dịch vụ trong trường hợp bên bán hàng, cung ứng hàng hóa dịch vụ đòi hỏi phải có tiền để chi trả ngay và hợp với số tiền hàng đã giao, dịch vụ đã cung ứng theo hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng trong trường hợp khác địa phương.
Trong trường hợp bên thụ hưởng không tin tưởng khả năng chi trả của bên trả 12 tiền hoặc trường hợp bên trả tiền đã vi phạm chế độ thanh toán hiện hành, Ngân hàng buộc họ phải chuyển sang phương tiện thanh toán này. M ộ t s ố q u y đ ịn h : + Do tính chất phức tạp của quy trình công nghệ thanh toán nên Thư tín dụng được mở với số tiền tương đối lớn (tối thiểu là 10 triệu đồng) và thời gian tương đối dài (3 tháng kể từ ngày mở Thư tín dụng). Thư tín dụng không được bố sung thêm tiền nếu muốn bổ sung tiền thì phải mở Thư tín dụng khác. + Mỗi Thư tín dụng chỉ dùng để thanh toán với một người thụ hưởng và chỉ được thanh toán một lần (trường hợp đặc biệt được thanh toán hai lần).
+ Sau thời gian hiệu lực quy định, Thư tín dụng đã mở không được sử dụng sẽ hủy bỏ bằng việc trả lại tiền trên tài khoản Thư tín dụng vào tài khoản tiền gửi người trả tiền. Như vậy, trong thanh toán Thư tín dụng khả năng đảm bảo chi trả là chắc chắn theo những điều khoản mà hai bên đã thỏa thuận. Song thủ tục mở thư tín dụng phiền hà, người mua hàng bị đọng vốn do phải ký gửi một khoản tiền lớn trên TKTG đảm bảo thanh toán Thư tín dụng mà không được hưởng lãi.