Chương 1: Tổng quan về dịch vụ ngân hàng bán lẻ và phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ của ngân-hàng thương mại Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội —Chi nhánh Long Biên Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội - Chi nhánh Long Biên 7 C H Ư Ơ NG 1 T Ỏ N G Q U A N VÈ D ỊC H v ụ NG Â N H À N G BÁ N LẺ VÀ PH Á T TRIỂN D ỊC H VỤ N G Â N H À N G BÁ N LẺ CỦA NG Â N H À N G TH Ư Ơ N G M ẠI 1. K h á i n iệ m d ị c h v ụ n g â n h à n g b á n lẻ Dựa trên cơ sở các chức năng của ngân hàng thương mại thực hiện trong nền kinh tế, ngân hàng được hiểu là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và các dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Ở Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Tuy nhiên, khái niệm về dịch vụ ngân hàng nói chung và dịch vụ ngân hàng bán lẻ nói riêng còn nhiều quan xỉiểm khác nhau và cần được làm rõ.
Theo từ điển Việt Nam, “dịch vụ” được hiểu là “các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt”. Trong cuốn “Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại”[32], tác giả đã đưa ra khái niệm dịch vụ: “Dịch vụ là các lao động của con người được kết tinh trong giá trị của kết quả hay trong giá trị các loại sản phẩm vô hình và , không thể cầm nắm được”. Theo tác giả thì thì khi kết hợp hai khái niệm này lại thì ta có khái niệm đầy đủ về dịch vụ như sau: “Dịch vụ là các lao động của con người được kết tinh trong các sản phẩm vô hình nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của con người”. Trong cơ cấu nền kinh tế của một quốc gia, ta có thể hiểu “dịch vụ ngân hàng” là toàn bộ các hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối, 8 ngân q u ỹ.
của hệ thống ngân hàng đối với khách hàng là cá nhân và các doanh nghiệp nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. “Bán lẻ”, xét ở lĩnh vực thương mại, dịch vụ, là hoạt động bán hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ trực tiếp đến người tiêu dùng. Thực tế, các doanh nghiệp hay cá nhân bán sản phẩm hay cung cấp dịch vụ đều tham gia bán lẻ cho dù có thể phần lớn là bán buôn. Còn “bán buôn” là hoạt động bán sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ cho người mua để rồi người mua đó sẽ bán lại cho người tiêu dùng cuối cùng.
Trong lĩnh vực ngân hàng, “bán lẻ” là thuật ngữ về cơ bản cũng là chỉ những hoạt động phục vụ cho đối tượng khách hàng là người tiêu dùng cuối cùng. Tuy nhiên, một số tác giả như Vũ Thị N gọc Dung (2009), Lê Công (2013) đã nêu ra quan niệm khác nhau như: “hoạt động bán lẻ là những hoạt động giao dịch của ngân hàng phục vụ khách hàng cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ, “hoạt đông bán lẻ là những hoạt động chuyển tới tận tay những đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới các kênh phân phối đa dạng và hiệu quả”. Như vậy từ những cách hiểu trên, có thể nhận thức một cách khái quát về dịch vụ ngân hàng bán lẻ là: “D ịch vụ N H B L là việc cung ứng dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua m ạng lưới chi nhánh hoặc việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với dịch vụ ngân hàng thông qua các p h ư ơ n g tiện thông tin, điện tử viên thông. N ói chung, có thể thấy sự khác biệt giữa dịch vụ ngân hàng bán lẻ và bán buôn ở các khía cạnh là đối tượng khách hàng, số lượng dịch vụ, quy mô khoản giao dịch.
Đ oi tượng khách hàng Có thể nói đặc điểm này là đặc điểm dễ nhận biết và dễ phân biệt nhất 9 khi phân biệt với dịch vụ ngân hàng bán buôn. Đối tượng phục vụ của dịch vụ NHBL là các cá nhân, hộ gia đình và các DNVVN. Nhóm khách hàng này có số lượng đông đảo, thuộc nhiều thành phần trong xã hội, thu nhập trung bình, đa dạng về trình độ, lĩnh vực kinh doanh, ngành nghề và nhu càu vốn không lớn trong thời gian ngắn. Đối với nhóm khách hàng cá nhân, sự khác nhau về vị trí xã hội, lối sống, lứa tuổi, dân tộc, thói quen, mức thu nhập.
sẽ có những phản ứng riêng cũng như nhu cầu riêng với các sản phẩm trên thị trường nói chung và dịch vụ ngân hàng nói riêng. Đ ối với nhóm khách hàng là các D N V V N thì sự khác nhau về lĩnh vực kinh doanh, quy mô doanh nghiệp, địa bàn hoạt động thì nhu cầu với các dịch vụ của ngân hàng cũng rất khác nhau. Bởi vậy, để thành công trên thị trường bán lẻ đòi hỏi các ngân hàng phải nhận biết được các nhân tố tác động tới hành vi mua sản phẩm dịch vụ của khách hàng. Giá trị m ỗi giao dịch ngân hàng bán lẻ nhỏ nhưng tổng sổ lượng giao dịch có thê rât lớn Khác với dịch vụ ngân hàng bán buôn, đối tượng phục vụ của dịch vụ NHBL chủ yếu là các cá nhân, ngoài ra còn có các DNVVN.
Đây là nhóm đối tượng khách hàng có số lượng đông đảo, phân bố ở nhiều địa bàn. Giá trị của mỗi giao dịch giữa đổi tượng khách hàng này với NHTM không cao nhưng với số lượng khách hàng lớn thì số lượng giao dịch có thể rất lớn. này cho thấy, theo quy luật sổ lớn, nếu biết khai thác các khách hàng hiện có và thu hút thêm các khách hàng tiềm năng, các NHTM có thể gia tăng được doanh thu,'giảm bớt chi phí do những chi phí chung được phân bổ cho số lượng khách hàng lớn hơn và có thể gia tăng thêm lợi nhuận. Sản pham dịch vụ ngân hàng bán lẻ đa dạng, p h o n g p h ú Đối tượng khách hàng cá nhân của ngân hàng có sự không đồng nhất, 10 phân hốa cao về độ tuổi, nghề nghiệp, thu nhập, sở thích cũng như nhu cầu về sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
Trong khi đó, khách hàng doanh nghiệp của hoạt động NHBL thì thường là các doanh nghiệp nhỏ, có số lượng đông đảo, lĩnh vực và ngành nghề kinh doanh đa dạng. Do vậy, ngân hàng muốn phát triển được dịch vụ ngân hàng bán lẻ phải có một danh mục dịch vụ, sản phẩm đa dạng và không ngừng được cải tiến. Có thể kể ra như đối với các sản phẩm tín dụng cho nhu cầu cá nhân và hộ gia đình có cho vay mua nhà, cho vay mua ô tô, cho vay mua sắm hàng hóa. Dịch vụ cho đối tượng học sinh, sinh viên có sản phẩm cho vay du học.
Đối với đổi tượng DN V V N thì ngân hàng đưa ra các sản phẩm phát triển kinh doanh, cho vay bổ sung vốn lưu động, cho vay theo hạn mức tín dụng. M ạng lưới p h â n p h ố i rộng, ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại Hệ thống phân phối của ngân hàng bao gồm hai loại: kênh phân phối truyền thống sử dụng mạng lưới chi nhánh, PGD hoặc ngân hàng đại lý và kênh phân phối hiện đại sử dụng công nghệ thông tin trong việc phân phối sản phẩm, có thể kể đến như: mobile banking, internet banking, ATM, P O S. Muốn đáp ứng được nhu cầu của một phạm vi khách hàng rộng lớn, phân tán, các ngân hàng cần phải xây dựng hạ tầng CNTT theo hướng mở, có tính tương tác cao nhằm tăng khả năng kết nối liên ngân hàng, tiến tới giao dịch không dùng tiền mặt. Thực tế cho thấy, CNTT đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển , các sản phẩm bán lẻ, nhất là các sản phẩm dịch vụ tiên tiến, là tiền đề quan trọng để lưu giữ và xử lý dữ liệu tập trung.
Bên cạnh đó, do tính chất khách hàng của dịch vụ NHBL đông đảo và phân tán, lại nhạy cảm với cách thức phân phối của ngân hàng nên nếu không có sự phát triển của CNTT thì các ngân hàng không thể tiếp cận và cung cấp các sản phẩm dịch vụ tới mọi khách hàng, nhất là các khách hàng ở các khu vực mà ngân hàng chưa có điều 11 kiện để mở chi nhánh hoặc phòng giao dịch, hoặc các khách hàng có nhu cầu giao dịch ngoài giờ hành chính. V a i t r ò c ủ a d ịc h v ụ n g â n h à n g b á n lẻ Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, vai trò của dịch vụ ngân hàng nói chung và dịch vụ ngân hàng bán lẻ nói riêng ngày càng trở nên quan trọng không chỉ đối với ngân hàng mà còn với cả nền kinh tế và khách hàng. * Đ ổ i với nền kinh tế Dịch vụ bán lẻ góp phần hình thành tâm lý thanh toán không dùng tiền mặt của người dân. Nhờ đó tiết kiệm chi phí và thời gian cho ngân hàng và khách hàng, góp phần tiết giảm chi phí xã hội và đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ.
Bên cạnh đó, nhờ có dịch vụ bán lẻ mà nguồn vốn của dân cư được sử dụng có hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế đất nước. Dịch vụ bán lẻ tạo điều kiện cho các ngành dịch vụ khác phát triển. Các dịch vụ thẻ, chuyển tiền. gắn với các ngành dịch vụ khác như bưu chính viễn thông, du lịch, giao thông vận tải.
Công nghệ ngân hàng phát triển sẽ tạo thuận lợi hơn cho việc thanh toán của các ngành dịch vụ có liên quan.