CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THANH KHOẢN VÀ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về thanh khoản và rủi ro thanh khoản: 1.1 Khái niệm về thanh khoản: Theo Duttweiler1: “Thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn đến mức tối đa bằng đơn vị tiền tệ quy định. Do thực hiện bằng tiền mặt, thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ. Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu thanh khoản.” Ngoài ra ta có một số định nghĩa cụ thể hơn về thanh khoản2: Thanh khoản ngắn hạn: là khả năng ngân hàng có thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán vào thời điểm và ngay khi chúng phát sinh (thanh khoản theo tình huống cụ thể).
Đây là điều kiện thứ phát mạnh mẽ liên quan đến khả năng sinh lãi (quan điểm cổ điển liên quan đến tính thanh khoản). Thanh khoản dài hạn: là khả năng vay đủ vốn dài hạn với lãi suất hợp lý nhằm hỗ trợ cho việc tăng tài sản (thanh khoản theo cấu trúc). Điều này hiện rất được các ngân hàng chú trọng. Khả năng thương mại: là khả năng trao đổi thường trực của các sản phẩm trên thị trường vốn mà không phải giảm giá quá mức.
Đây là trọng tâm của các giám sát viên và nghiên cứu học thuật trong thập niên 90. Thanh khoản thị trường: là khả năng của thị trường tạo cơ sở cho hoạt động vay mượn tại các thị trường vốn và tiền tệ. Điều này tập trung vào các mối nguy gây ra bởi những sự kiện đặc biệt. Như vậy ta có thể hiểu thanh khoản không phải là một số tiền nào đó.
Thay vào đó, nó thể hiện phạm vi khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán của một ngân hàng. Trái ngược với nó là “thiếu khả năng thanh khoản”, nghĩa là: ngân hàng 1 Rodolf Duttweiler, 2009. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 thiếu khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán. Theo nghĩa này, thanh khoản đại diện cho yếu tố định tính về sức mạnh tài chính của một ngân hàng (Duttweiler, 2008, trang 30)3.
Khi nào nguồn vốn hay tài sản của ngân hàng được xếp vào loại có tính thanh khoản cao? Một nguồn vốn được gọi là có tính thanh khoản cao khi ngân hàng có thể tiếp cận nguồn vốn đó với chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh. Một tài sản được gọi là có tính thanh khoản cao khi ngân hàng có thể tiếp cận tài sản đó với chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh. Vậy thanh khoản có ý nghĩa như thế nào đối với ngân hàng? Thanh khoản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ngân hàng vì: Thứ nhất, cần phải có thanh khoản để đáp ứng nhu cầu vay mới mà không cần phải thu hồi những khoản cho vay đang trong hạn hoặc thanh lý các khoản đầu tư có kỳ hạn. Thứ hai, cần có thanh khoản để đáp ứng tất cả những biến động hằng ngày hoặc theo mùa vụ về nhu cầu rút tiền một cách kịp thời và có trật tự.
Do ngân hàng thường xuyên huy động tiền gửi ngắn hạn (với lãi suất thấp) và cho vay số tiền đó với thời hạn dài (với lãi suất cao) nên về cơ bản ngân hàng luôn có nhu cầu thanh khoản rất lớn. Ngoài ra thanh khoản còn ảnh hưởng đến lòng tin của người gửi tiền và người cho vay. Thanh khoản kém là nguyên nhân trực tiếp của hầu hết các trường hợp đổ vỡ ngân hàng4.2 Khái niệm về rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản là một loại rủi ro quan trọng đối với các tổ chức kinh tế nói chung và càng đặc biệt quan trọng với các tổ chức tài chính nói riêng, mà cụ thể là với các NHTM. Thực tế không ít tổ chức tài chính có thể bị phá sản do yếu tố rủi ro thanh khoản của tài sản không bù đắp nổi bởi khả năng thanh toán.
Ở mức độ nhẹ hơn, rủi ro này gây nên khó khăn hoặc đình trệ hoạt động kinh doanh của tổ chức đó trong một thời điểm cụ thể. 4 Công trình dự thi Giải thưởng nghiên cứu khoa học sinh viên “Nhà kinh tế trẻ - năm 2010”, trang 7. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Rủi ro thanh khoản là trường hợp không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán vào thời điểm khi chúng đến hạn thanh toán và theo đó việc không thể thực hiện này có thể gây ra những hậu quả không mong muốn5. Nói cách khác đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng bị thiếu hụt thanh khoản, nghĩa là thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.
Phân loại rủi ro thanh khoản: Phân loại theo cấu trúc: rủi ro thanh khoản gồm 4 nhóm: + Rủi ro thanh khoản rút tiền trước hạn: những khoản tiền gửi có thể ồ ạt bị rút trước hạn. + Rủi ro thanh khoản có kỳ hạn: khách hàng trì hoãn trả nợ cho các khoản vay. + Rủi ro thanh khoản tài trợ: nếu một tài sản không được tài trợ hợp lý thì sau này việc tài trợ có thể phải được thực hiện trong những điều kiện bất lợi, nghĩa là với giá chênh lệch cao hơn, thậm chí quỹ tiền có thể bị thâm hụt. + Rủi ro thanh khoản thị trường: các điều kiện bất lợi của thị trường có thể làm giảm khả năng chuyển các tài sản khả nhượng thành tiền mặt hoặc để tài trợ khi cần thiết.
Phân loại theo nguồn gốc: rủi ro thanh khoản gồm 3 nhóm: + Rủi ro thanh khoản đến từ bên tài sản nợ: phát sinh khi người gửi tiền rút tiền trước hạn hoặc đến hạn mà ngân hàng lại không có sẵn nguồn vốn để thanh toán. Với một lượng tiền gửi lớn và đột ngột buộc ngân hàng phải đi vay bổ sung trên thị trường tiền tệ với lãi suất cao, hoặc huy động vốn với chi phí cao, hoặc bán bớt tài sản với giá thấp hơn giá thị trường để chuyển hóa thành vốn khả dụng đáp ứng nhu cầu chi trả. + Rủi ro thanh khoản đến từ bên tài sản có: chủ yếu phát sinh liên quan đến việc thực hiện các cam kết tín dụng, cho vay. Đối với những cam kết tín dụng cho phép người vay vốn rút tiền bất cứ lúc nào trong thời hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng thì ngân hàng phải đảm bảo đủ tiền ngay lập tức để đáp ứng nhu cầu của 5 Rodolf Duttweiler, 2009.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 khách hàng ngay khi có yêu cầu, nếu không ngân hàng sẽ đối mặt với nguy cơ mất uy tín, thậm chí tình huống xấu hơn là nguy cơ mất khả năng thanh toán. Lúc này, ngân hàng cũng phải huy động nguồn vốn khác với chi phí cao hoặc bán bớt tài sản với giá thấp tương tự như rủi ro rừ bên tài sản nợ. + Rủi ro thanh khoản đến từ hoạt động ngoại bảng: phát sinh khi các nghĩa vụ thanh toán bất thường – các hoạt động ngoại bảng – xảy ra, như: cam kết bảo lãnh, nghĩa vụ thanh toán các hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi hay hợp đồng quyền chọn. Khi các cam kết, hợp đồng đó đến hạn, ngân hàng có thể phải đối mặt với rủi ro thanh khoản nếu không chuẩn bị nguồn thanh khoản kịp thời, không có những tài sản dễ dàng chuyển thành tiền hoặc những công cụ có thể giao dịch trên thị trường tiền tệ.2 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản: Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy rằng hiện tượng thiếu hụt thanh khoản thường là một trong những dấu hiệu đầu tiên cho thấy ngân hàng đang ở trong tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng.
Hậu quả tiếp theo có thể là ngân hàng mất dần các khoản tiền gửi cũ vì áp lực rút tiền ngày càng gia tăng, không thể thu hút thêm các khoản tiền gửi mới vì thái độ dè dặt của công chúng đối với ngân hàng, một số ngân hàng thì ở trong tình thế cho vay hỗ trợ một cách miễn cưỡng vì phải huy động vốn với lãi suất cao hơn lãi suất cho vay, càng làm suy giảm hơn nữa lợi nhuận của ngân hàng. Vậy thì do đâu mà ngân hàng lại rơi vào tình trạng này? Qua nghiên cứu và thực tế có thể đúc kết lại rằng việc ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản là do các nguyên nhân chính như sau: Thứ nhất, do sự mất cân xứng giữa dòng tiền thu về và dòng tiền chi ra: ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá nhân và định chế tài chính khác, sau đó chuyển hóa chúng thành những tài sản đầu tư dài hạn. Do đó đã xảy ra tình trạng mất cân xứng giữa ngày đáo hạn của các khoản sử dụng vốn và ngày đáo hạn của các nguồn vốn huy động, mà thường gặp nhất là dòng tiền thu hồi từ các tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền phải chi ra để chi trả tiền gửi đến hạn. Thứ hai, nguyên nhân từ sự thay đổi lãi suất: do tiền gửi ngân hàng rất nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất đầu tư.
Khi lãi suất đầu tư tăng, một số người rút LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 vốn của họ ra khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn, còn các khách hàng vay tiền sẽ tích cực tiếp cận các khoản tín dụng vì có lãi suất thấp hơn. Như vậy sự thay đổi lãi suất ảnh hưởng đến cả khách hàng gửi tiền và vay tiền, kế đó cả hai tác động đến trạng thái thanh khoản của ngân hàng (giải thích về trạng thái thanh khoản sẽ được trình bày ở phần sau). Hơn nữa, những xu hướng về sự thay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà ngân hàng có thể đem bán để tăng thêm nguồn cung cấp thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ. Thứ ba, nguyên nhân chủ quan từ việc quản trị thanh khoản của ngân hàng: do ngân hàng có chiến lược quản trị thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quả: các chứng khoán ngân hàng đang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dự trữ của ngân hàng không đủ cho nhu cầu chi trả; hoặc nhà quản trị đánh giá không đúng về khả năng và nhu cầu thanh khoản của ngân hàng… 1.
Cung – cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản của NHTM: 1.1 Cung – cầu thanh khoản: 1.