Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng của NHTM. Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đại Dương. Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đại Dương. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS.Nguyễn Tiến Dũng – trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, các anh chị trong Ngân hàng TMCP Đại Dương đã tận tình hướng dẫn và hỗ trợ cho em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế nên trong luận văn còn nhiều thiếu sót cả về nội dung và hình thức. Em xin trân trọng tiếp thu mọi ý kiến đóng góp của người đọc luận văn này. CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tín dụng và rủi ro tín dụng 1.
Tín dụng ngân hàng. Ngân hàng thương mại và các hoạt động của Ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại (NHTM) đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Sự phát triển nền kinh tế thị trường ngày càng mạnh mẽ tự nó thiết lập nên những định chế tài chính trong đó NHTM trở thành một phần không thể thiếu trong hệ thống kinh tế và ngày càng được hoàn thiện.
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều quan niệm NHTM. Ở Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức kí thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vay hay tài trợ và đầu tư.vn Bài:ngân hàng thương mại và vai trò ngân hàng thương mại của Đăng Lê Quốc Hoàng).
Ở Việt Nam, Pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của hội đồng Nhà nước Việt Nam xác định: Ngân hàng thương mại được định nghĩa là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền ký gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Ngân hàng là một loại định chế tài chính trung gian mà qua đó các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội được tập trung lại và chính các nguồn vốn này sẽ được sử dụng nhằm hỗ trợ tài chính cho các thành phần kinh tế trong xã hội với mức lãi suất cao hơn. Ngoài ra, thông qua hoạt động của mình các ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ, sản phẩm ngân hàng đa dạng phù hợp nhu cầu của các thành phần kinh tế trong xã hội, từ đó tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Ngân hàng thương mại là một thành phần quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia.
Một số hoạt động chính của NHTM như: - Hoạt động huy động vốn: Nhận tiền gửi của các tổ chức, các nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi; Phát hành chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá để huy động vốn của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước theo quy định pháp luật hiện hành; Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác; Vay vốn ngắn hạn của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn. - Hoạt động tín dụng: Ngân hàng cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của - Ngoài ra, các NHTM còn có các hoạt động dịch vụ thanh toán, hoạt động kho quỹ và các hoạt động khác như góp vốn cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, dịch vụ tư vấn…. Có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.
Hoạt động tín dụng của NHTM. a/ Khái niệm Tín dụng ngân hàng. Tín dụng là mối quan hệ kinh tế trong đó các chủ thể chuyển cho nhau quyền sử dụng về một lượng giá trị hoặc hiện vật với những điều kiện mà hai bên thỏa thuận như số lượng, thời hạn, lãi suất… theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Như vậy, tín dụng có thể hiểu đơn giản là một quan hệ vay mượn lẫn nhau dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.
Đối tượng cho vay mượn có thể là tiền hoặc tài sản. Nguyên tắc hoàn trả khẳng định người cho vay chỉ chuyển nhượng quyền sử dụng tiền hoặc tài sản của mình cho người đi vay trong một khoảng thời gian nhất định. Hết thời hạn đó người đi vay sẽ hoàn trả cho người cho vay một số tiền hay tài sản theo thỏa thuận. Thông thường giá trị khoản hoàn trả này sẽ lớn hơn giá trị khoản cho vay.
Với cùng bản chất như vậy, tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn lẫn nhau giữa một bên là ngân hàng và bên kia là các chủ thể kinh tế khác như các đơn vị kinh tế, các tổ chức xã hội, dân cư dựa trên nguyên tắc hoàn có hoàn trả gốc và lãi trong khoảng thời gian nhất định. Việc hoàn trả có thể được thực hiện một lần hay nhiều lần tùy theo thỏa thuận giữa hai bên. Một ngân hàng khi tham gia vào quan hệ tín dụng có thể đòng vai trò là người đi vay hoặc cho vay. Khi ngân hàng nhận tiền gửi, phát hành trái phiếu, kỳ phiếu để huy động vốn từ Ngân hàng TW, từ các tổ chức tín dụng khác thì nó đóng vai trò là người đi vay.
Còn khi ngân hàng thực hiện việc cho vay trực tiếp, chiết khấu thương phiếu. thì nó đóng vai trò là người cho vay. Tuy nhiên, trong thực tế do tính phức tạp của hoạt động cho vay so với đi vay và cũng là do thói quen nên khi nói đến tín dụng ngân hàng người ta thường chỉ đề cập đến hoạt động cho vay mà ít đề cập đến hoạt động đi vay. b/ Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng ngân hàng.
Hoạt động tín dụng ngân hàng có hiệu quả hay không hiệu quả phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan: * Các yếu tố khách quan - Môi trường kinh tế: Nhu cầu sử dụng dịch vụ tín dụng của thị trường phụ thuộc vào lưu thông hàng hóa của nền kinh tế. Nền kinh tế có thu nhập cao, của cải nhiều sẽ làm cho mức cung ứng cũng như nhu cầu về tín dụng dồi dào hơn. - Môi trường pháp lý và những chính sách tài chính liên quan: luật ngân hàng, các văn bản pháp luật cũng như các chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ có ảnh hưởng mạnh đến hoạt động tín dụng. Khi Nhà nước thực hiện chính sách tài chính mở rộng, tức tăng chi tiêu của Chính phủ, có thể dẫn đến thâm hụt Ngân sách, theo đó nhu cầu được cấp tín dụng tăng lên.
Và ta cũng có thể thấy các ảnh hưởng trực tiếp từ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương: Đối với chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ làm cho lượng tín dụng cung ứng cho nền kinh tế giảm đi, tất yếu dẫn đến tăng lãi suất tín dụng. - Một số yếu tố khác: Lạm phát dự tính: khi lạm phát tăng, ở bất kỳ mức lãi suất nào, người cấp tín dụng cũng đều bị thiệt hại do giá trị khoản tín dụng bị giảm, người được cấp tín dụng lại được lợi do khoản phải trả giảm giá trị, từ đó tác động làm biến đổi cung, cầu và lãi suất tín dụng. Tỷ suất lợi nhuận bình quân: tỷ suất lợi nhuận bình quân tăng thì hoạt động đầu tư ít rủi ro, lợi nhuận cao hơn, nhu cầu về tín dụng cũng tăng theo. * Các yếu tố chủ quan: - Khả năng thanh khoản: Ngày nay nhiều ngân hàng không thể đứng vững được vì mất đi khả năng thanh khoản.
Đây là một trong những vấn đề nhức nhối đối với các nhà lãnh đạo của các Ngân hàng. Ngân hàng nào có khả năng thanh khoản tốt thì hoạt động tín dụng của ngân hàng đó cũng hoạt động mạnh mẽ hơn vì nguồn vốn đầu vào và đầu ra được cân đối. - Chính sách tuyển dụng và cách sắp xếp nhân sự của ngân hàng: Tuyển dụng những nhân sự đúng chuyên ngành có kinh nghiệm và sắp xếp các vị trí từ quản lý đến nhân viên sẽ giúp cho hoạt động tín dụng của NHTM có hiệu quả. - Trình độ công nghệ và quản lý hoạt động tín dụng của ngân hàng ảnh hưởng đến chất lượng và khả năng mở rộng thị trường tín dụng của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng Ngân Hàng Thương Mại. Khái niệm rủi ro tín dụng. Rủi ro được hiểu là những nguy cơ tiềm tàng có thể dẫn đến thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần. Một trong đặc tính của rủi ro là khó xác định (có thể xảy ra hay không, xảy ra lúc nào và thiệt hại ở mức độ nào?), do vậy trong hoạt động của con người cần tìm ra nhiều biện pháp thấp nhất để phòng ngừa các rủi ro hoặc khi xảy ra có thể hạn chế tối đa thiệt hại.
Rủi ro luôn xuất hiện bất ngờ và đe dọa sự sống còn của doanh nghiệp, tuy nhiên muốn có được lợi nhuận cao thì phải chấp nhận nó. Chiến lược kinh doanh càng mạo hiểm thì khả năng thu được lợi nhuận càng lớn, nhưng cũng chứa đựng đầy rủi ro. Mối liên hệ rủi ro và lợi nhuận đểu phổ biến ở tất cả các tài sản có. Trong các loại rủi ro đối với hoạt động ngân hàng phải đối mặt nhiều nhất là rủi ro tín dụng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động sinh lời chủ yếu của NHTM.