Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tìm hiểu về cạnh tranh của NHTM 1. NHTM và các hoạt động cơ bản của NHTM. Khái niệm NHTM.
Trong nền kinh tế hàng hóa, có nhiều doanh nghiệp, nhiều đơn vị tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh trong nhiều ngành, nhiều nghề, nhiều lĩnh vực khác nhau sản xuất ra những hàng hóa, dịch vụ khác nhau. Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế, có mối liên hệ mật thiết với tất cả các ngành, các lĩnh vực khác của nền kinh tế. Ngân hàng là một tổ chức tài chính trung gian vừa cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng đồng thời thực hiện các chính sách kinh tế m à chủ yếu là chính sách tiền tệ nhằm điều tiết nền kinh tế phát triển một cách ổn định. Như vậy có thể thấy rằng hoạt động của ngân h àng có ảnh hưởng đáng kể tới sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
Có nhiều khái niệm ngân hàng thương mại khác nhau: Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính. Ở Pháp: Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận của công chứng dưới hình thức ký thác hay các hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Ở Việt Nam: Theo sắc lệnh số 018CT/LDGCQLSL ng ày 20/10/1969 của Chính Quyền Sài Gòn củ cho rằng: Ngân hàng thương mại là một xí nghiệp công hay tư lập, kể cả chi nhánh hay phân cục ngân hàng ngoại quốc mà hoạt động thường xuyên là thi hành cho chính mình nghiệp vụ chiết khấu, tài chính với tiền ký thác của tư nhân hay của xí nghiệp, cơ quan công quyền. Luật TCTD số 47/2010/QH12 được Quốc Hội Việt Nam thông qua ngày 16/06/2010 định nghĩa: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật n ày nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt với nhiều hoạt động đa dạng, có thể tổng hợp những hoạt động đó theo 3 nhóm hoạt động c ơ bản, đó là: hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và các hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hoạt động huy động vốn.
Nguồn vốn tiền gửi không kì hạn: đây là nguồn vốn hình thành dựa trên nhu cầu giao dịch, khi khách hàng muốn sử dụng các dịch vụ tài chính của ngân hàng. Nguồn vốn này có quy mô không lớn lắm trong số nguồn vốn. Tuy nhiên sự vận động của nó lại phức tạp nên việc sử dụng rất mạo hiểm, nhà quản lý ngân hàng cần phải thận trọng và tính toán độ an toàn để sử dụng hiệu quả. Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: nhiều khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ được chi trả sau một thời gian xác định sẽ đ ược gửi vào ngân hàng sau một thời gian nhất định để hưởng lãi suất tương ứng với kì hạn đó (luôn cao hơn đối với lãi suất tiền gửi thanh toán).
Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: đây là các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích sinh lời và an toàn. Nguồn vốn chủ sở hữu: Là vốn điều lệ của tổ chức tín dụng hoặc vốn đ ược cấp của chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các quỹ dự trữ, một số tài sản nợ khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đây là nguồn vốn để bắt đầu hoạt động ngân hàng và sẽ được bổ sung trong quá trình hoạt động. Ðây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, cơ cở vật chất cho ngân hàng.
Các nguồn vốn khác: đây thường là các nguồn không phải trả lãi, tuy nhiên chi phi để có và duy trì chúng là rất đáng kể, ví dụ như nguồn uỷ thác. Hoạt động sử dụng vốn. * Các hoạt động về ngân quỹ: Dự trữ bắt buộc: đây là khoản dự trữ mà ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mại nộp vào tài khoản tại ngân hàng Nhà nước nhằm mục đích: hỗ trợ, bảo đảm an toàn cho hoạt động của ngân hàng thương mại, vận hành chính sách tiền tệ quốc gia, quản lý hoạt động ngân hàng thương mại. Nhìn chung, ngân quỹ của ngân hàng thương mại là tài sản không sinh lời (hoặc sinh lời thấp trong trường hợp tiền gửi tại ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng khác được hưởng lãi) song lại là tài khoản có tính thanh khoản cao nhất, đáp ứng nhu cầu chi trả th ường xuyên.
Do vậy, mỗi ngân hàng đều cố gắng giữ ngân quỹ ở mức thấp nhất có thể đ ược. * Cho vay: là việc ngân hàng nhường quyền sử dụng vốn cho người khác trong một thời gian, sau đó được quyền thu cả gốc lẫn lãi. Cho vay là khoản mục có tỷ lệ cao nhất trong các loại tài sản của ngân hàng. Có rất nhiều loại hình cho vay khác nhau đáp ứng nhu cầu của dân cư hay các doanh nghiệp.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 * Các hoạt động đầu tư: Ngân hàng nhường quyền sở hữu cho người khác dươi hình thức hùn vốn, thu nhập căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận, tỷ lệ vốn góp. Có nhiều hình thức đầu tý: đầu tư vào chứng khoán, đầu tư vào các dự án, đầu tư dưới dạng liên doanh với nhau để hình thành các ngân hàng liên doanh. * Các hoạt động sử dụng vốn khác: quảng cáo, quảng bá, t ài trợ cho sự phát triển nguồn nhân lực, các chương trình phát triển. Cung cấp dịch vụ tài chính trung gian.
* Chuyển tiền: Ngân hàng làm theo lệnh của khách hàng chuyển trả tiền cho một người nào đó. * Thanh toán không dùng tiền mặt: Được hiểu là một hình thức không dung tiền mặt trong việc thanh toán, chi trả cho một giao dịch nào đó. Thay vào đó sẽ là các hình thức thanh toán ngày càng đa dạng như: thanh toán bù trừ, sec, L/C, uỷ nhiệm chi, ủy nhiệm thu, hối phiếu, thanh toán bằng thẻ.Việc thanh toán không dùng tiền mặt một mặt sẽ tiết kiệm được chi phí in ấn tiền mặt mà còn tiết kiệm được thời gian, công sức để thực hiện một giao dịch. * Cung cấp các dịch vụ tài chính: Dịch vụ ủy thác và tư vấn: Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về quản lý tài chính.
Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lý tài chính hộ. Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính. Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: Ngân hàng cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác. Trong một vài trường hợp, các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán để cung cấp dịch vụ môi giới.
Bảo lãnh: Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng là rất lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác. Cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Nội dung cạnh tranh giữa các NHTM.
Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, đ ơn vị, ngành kinh tế hết sức khắc nghiệt. Nhất là trong môi trường hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM) có sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Do xuất phát từ những đặc thù của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 hoạt động kinh doanh ngân hàng và những ảnh hưởng của hoạt động ngân hàng đối với nền kinh tế, cạnh tranh của NHTM có những đặc tr ưng riêng. Đó là: Các NHTM vừa cạnh tranh gay gắt vừa hợp tác với nhau : Cũng như bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào, trong hoạt động của mình, các ngân hàng luôn phải cạnh tranh gay gắt với nhau để mở rộng thị trường và thu hút khách hàng nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
Tính chất gay gắt trong cạnh tranh ngâ n hàng xuất phát từ đặc thù của sản phẩm, dịch vụ ngân hàng là có tính tương đồng cao và rất dễ bị bắt chước. Mặt khác, trong cạnh tranh, các ngân hàng không chỉ sử dụng các công cụ mang tính truyền thống nh ư phí, lãi suất, các dịch vụ ngân hàng,. mà còn sử dụng công nghệ hiện đại để đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ, đ ưa ra các kênh phân phối mới và nâng cao chất lượng các sản phẩm, dịch vụ, tinh thần, thái độ phục vụ khách hàng. Bên cạnh đó, do điều kiện về vốn, mạng lưới, công nghệ có hạn trong khi nhu cầu, đòi hỏi về sản phẩm, dịch vụ ngân hàng ngày càng cao, lại các ngân hàng cũng phải liên kết với nhau để cùng cung cấp một hay một số sản phẩm, dịch vụ nhất định cho khách h àng.
Vì vậy, để phát huy hết năng lực phục vụ cũng nh ư tiết kiệm chi phí, đảm bảo an toàn trong kinh doanh, các NHTM một mặt cạnh tranh với nhau, một mặt, lại hợp tác chặt chẽ với nhau trong cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng. Cạnh tranh ngân hàng luôn phải hướng tới một thị trường lành mạnh, tránh khả năng xảy ra rủi ro hệ thống: Các NHTM phải cạnh tranh lành mạnh thông qua cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng có chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, đi vay để cho vay lại nếu các ngân h àng cạnh tranh không lành mạnh, hoặc cạnh tranh thông qua việc tăng l ãi suất huy động tiền gửi, giảm lãi suất cho vay, phí dịch vụ, nới lỏng các điều kiện tín dụng. sẽ l àm cho nguồn thu của các ngân hàng giảm sút, nguy cơ tiềm ẩn rủi ro tín dụng tăng cao dẫn đến rủi ro hệ thống.
Vì vậy, mặc dù cạnh tranh với nhau trong hoạt động, các NHTM vẫn li ên kết với nhau, có thể thoả thuận để giữ mặt bằng giá cả phù hợp, đảm bảo lợi ích chung.