CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về cho vay khách hàng cá nhân 1.1 Khái niệm hoạt động cho vay “Cho vaylà hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” (Khoản 16, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010). “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” (Khoản 14, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010).2 Bản chất của cho vay Bản chất của hoạt động cho vay của Ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định, gồm ba nội dung: - Bên cho vay: chuyển giao cho bên vay một lượng giá trị nhất định biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật. - Bên đi vay: sử dụng tạm thời tài sản trên trong một thời gian nhất định, hết thời gian thỏa thuận người đi vay phải hoàn trả lại cho bên cho vay. - Giá trị được hoàn trả lại phải lớn hơn giá trị lúc cho vay.
Phần chênh lệch đó có thể xem là lợi tức của bên cho vay. Phân loại hoạt động cho vay Hoạt động cho vay của ngân hàng có thể phân chia thành nhiều loại hình khác nhau tùy theo những tiêu thức phân loại khác nhau: Dựa vào mục đích của cho vay: Theo tiêu thức này, hoạt động cho vay của ngân hàng có thể phân chia thành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 các loại sau: - Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp; - Cho vay tiêu dùng cá nhân; - Cho vay mua bán bất động sản; - Cho vay sản xuất nông nghiệp; - Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu. Dựa vào thời hạn: Theo tiêu thức này, hoạt động cho vay của ngân hàng có thể phân chia thành các loại sau: - Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay lên đến 12 tháng; - Cho vay trung và dài hạnlà các khoản vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng; - Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn trên 60 tháng. Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng: Theo tiêu thức này, hoạt động cho vay của ngân hàng có thể phân chia thành các loại sau: - Cho vay có đảm bảo: là loại cho vay dựa trên cơ sở các đảm bảo cho tiền vay như thế chấp, cầm cố.
- Cho vay không có đảm bảo: là loại cho vay chỉ dựa uy tín của khách hàng vay vốn để quyết định cho vay. Dựa vào phương thức cho vay: Theo tiêu thức này, hoạt động cho vay của ngân hàng có thể phân chia thành các loại sau: - Cho vay từng lần; - Cho vay theo hạn mức tín dụng; - Cho vay theo dự án đầu tư; - Cho vay hợp vốn; - Cho vay trả góp; - Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Cho vay thông qua thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; - Cho vay theo hạn mức thấu chi. Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay: Theo tiêu thức này, hoạt động cho vay của ngân hàng có thể phân chia thành các loại sau: - Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn; - Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp; - Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy khả năng tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.4Hoạt động cho vay cá nhân tại các ngân hàng thương mại 1.1Khái niệm và đặc điểm của hoạt động cho vay cá nhân tại các ngân hàng thương mại Khái niệm: Căn cứ giải thích từ cho vay tại Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010, tác giả đưa ra khái niệm cho vay khách hàng cá nhân là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng cá nhân một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân: - Đối tượng cho vay: là cá nhân, hộ gia đình, cơ sở sản xuất kinh doanh.
- Quy mô khoản vay: quy mô của từng món vay thường nhỏ, nhưng số lượng các món vay nhiều. - Cho vayKHCN thông thường có rủi ro cao hơn so với cho vay khách hàng DN, tổ chức, vì vậy lãi suất cho vay cũng thường cao hơn. - Nhu cầu vay của KHCN thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế, nhu cầu này tăng lên trong thời kì kinh tế hưng thịnh và giảm đi khi kinh tế suy thoái. - Chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao và không đầy đủ.
- Quy trình xét duyệt cho vay và hồ sơ vay KHCN đơn giản hơn so với LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 doanh nghiệp, tổ chức.2 Những khác biệt giữa khách hàng vay cá nhân với khách hàng vay tổ chức, doanh nghiệp Các NHTM phân biệt bên vay thành 2 nhóm này vì đặc điểm của 2 nhóm này có sự khác nhau, việc phân biệt này nhằm mục đích nâng cao, chuyên môn hóa trong tiếp cận khách hàng cũng như trong việc quản lý khoản cho vay, hạn chế rủi ro tại ngân hàng. Nhóm khách hàng DN, tổ chức thường có nhu cầu vay các khoản lớn, nhu cầu vay có tính ổn định cao. Vì các dư nợ vay lớn nên mỗi khoản vay đòi hỏi ngân hàng phải thẩm định rất chặc chẽ, quy trình thẩm định, phân tích, kiểm soát nghiêm ngặc. Nhóm KHCN: các khoản vay của KHCN thường là các khoản vay nhỏ lẻ, không thường xuyên và không ổn định.
Các khoản vay thông thường xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của cá nhân và hộ gia đình, chính vì vậy đáp ứng nhu cầu tức thời cho nhóm đối tượng KHCN là mục tiêu mà các NHTM phải hướng tới. Việc cho vay KHCN cũng giúp ngân hàng phân tán rủi ro tín dụng thông qua việc cho vay nhiều món vay với nhiều khách hàng hơn. Đối tượng được xếp vào nhóm này không phải căn cứ giá trị các khoản vay lớn hay nhỏ mà căn cứ vào tính pháp lý của bên vay trước pháp luật. Trong quan hệ vay này ngân hàng và bên vay có quan hệ trực tiếp với nhau, trực tiếp ký kết vào các hợp đồng tín dụng và các hợp đồng khác có liên quan đến việc vay vốn.
Còn cho vay đối với khách hàng DN, ký kết các hợp đồng liên quan đến khoản vay là người đại diện cho DN đó.3 Vai trò cho vay khách hàng cá nhân Đối với ngân hàng thương mại: - Song song với hoạt động cho vay DN thì hoạt động cho vay KHCN có vai trò quan trọng trong việc tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Đối với khoản vay từ nguồn vốn tự có, NH thu được lợi nhuận từ lãi của từng khoản vay, đối với cho vay từ nguồn vốn huy động, NH thu lợi nhuận từ chênh lệch lãi giữa lãi cho vay và lãi tiền gửi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Hoạt động tín dụng nói chung và cho vay cá nhân nói riêng đóng vai trò quan trọng trong việc tao ra tiền của ngân hàng gọi là bút tệ. Nhờ phương thức này ngân hàng có thể mở rộng việc cho vay và từ đó mở rộng nguồn tiền ngân hàng lên gấp nhiều lần.
- Đối tượng KHCN không chỉ có nhu cầu vay mà còn là nguồn lực cung cấp cho ngân hàng một lượng vốn tương đối ổn định. Nguồn vốn này là những khoản tiền nhàn rỗi tiết kiệm của cá nhân nên mang tính ổn định cao thuận lợi cho việc đầu tư vào những tài sản trung dài hạn của ngân hàng. Các NHTM vừa tiếp cận được các món vay vừa có những khoản tiết kiệm, và những dịch vụ ngân hàng khác phát sinh qua việc tạo dựng mối quan hệ với nhóm khách hàng này. Đối với nền kinh tế - xã hội: - Mức cầu vềhàng hóa tiêu dùng và vốn trong kinh doanh của người dân có khả năng thanh toán sẽ phản ánh sự phát triển kinh tế của một đất nước.
Việc phát triển hoạt động cho vay KHCN của các NHTM sẽ làm tăng đáng kể những nhu cầu có khả năng thanh toán đó hay nói cách khác đây chính là một giải pháp hữu hiệu để kích cầu, tăng khả năng sản xuất và qua đó làm cho nền kinh tế trở nên năng động hơn. - Khi sức mua của người tiêu dùng tăng lên, thị trường hàng hóa tiêu dùng cũng theo đó mà trở nên sôi động hơn, góp phần quan trọng trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng sẽ thực hiện được các mục tiêu kinh tế – xã hội khác như giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, giảm bớt các tệ nạn xã hội, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Đối với khách hàng cá nhân : Có thể nói rằng bất cứ một người nào đều mong muốn được thoả mãn những nhu cầu của mình bắt đầu từ những hàng hóa tất yếu rồi đến những hàng hóa xa xỉ hơn.
Tuy nhiên thực tế nhiều người tại một thời điểm chưa có đủ khả năng chi trả cho những nhu cầu của mình do đó họ cần thời gian tích lũy, người vay sẽ khéo léo phối hợp giữa thỏa mãn tiêu dùng ở hiện tại với khả năng thanh toán ở hiện tại và tương lai. Ngân hàng thường cấp những khoản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 cho vay nhỏ cho đối tượng KHCN, mặc dù số tiền này không lớn, nhưng nó đủ trang trải các khoản chi phí, đầu tư nhỏ, tiêu dùng, bổ sung vốn kinh doanh cho các cá nhân và hộ gia đình.2 Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại 1.