CHƯƠNG 1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN 1. Tín dụng ngân hàng đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn 1. Đặc điểm kinh tế xã hội nông nghiệp, nông thôn ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng ngân hàng 1. Khái quát về lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Theo quan điểm hiện tại, nền kinh tế của một quốc gia, vùng lãnh thổ được phân chia thành 3 khu vực: Nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.
Sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất có từ lâu đời nhất trên thế giới. Hoạt động SXNN nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của con người như ăn, uống… Khi xã hội càng phát triển, SXNN không chỉ dừng lại đáp ứng nhu cầu thiết yếu mà nó còn là nơi cung cấp nguyên liệu cho các ngành khác và nông sản xuất khẩu. Vì vậy, nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cơ bản của nền kinh tế quốc dân nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm cho người dân, nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp và xuất khẩu, ngành nông nghiệp bao gồm các lĩnh vực: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp. Nếu nông nghiệp là một ngành, một lĩnh vực cụ thể được phân chia dựa theo ý nghĩa kinh tế của sản xuất vật chất thì nông thôn là một khu vực địa lý có giới hạn về mặt không gian và thời gian.
Khi nói đến nông thôn, chúng ta thường liên tưởng đến đô thị, việc phân chia nông thôn và đô thị được dựa theo các tiêu chí về trình độ phát triển như: mật độ dân số đông, cơ sở hạ tầng phát triển, mức sống dân cư cao … Các tiêu chí này tùy theo trình độ phát triển của mỗi quốc gia và trong mỗi thời kỳ nhất định. Cũng có các tiêu chí khác đưa ra để phân biệt nông thôn và đô thị là dựa vào tính chất và cơ cấu hoạt động sản xuất vật chất của vùng lãnh thổ đó, trong đó nông thôn là khu vực có hoạt động SXNN là chủ yếu. Tiêu chí này đúng nhưng chưa đủ vì cơ cấu kinh tế của khu vực nông thôn cũng có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp và tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ khi nền kinh tế phát tiển.4] Theo Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 04 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ thì Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã. Như vậy, nông thôn là một địa bàn mà ở đó hoạt động SXNN được coi là bao trùm.
Tuy nhiên, với sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, thì nông thôn không còn là khu vực hoạt động SXNN thuần túy mà còn có cả hoạt động công nghiệp và dịch vụ, khi nền kinh tế càng phát triển thì tỷ trọng của hoạt động SXNN thuần túy giảm đi nhưng con số tuyết đối không ngừng tăng lên. Các hoạt động kinh tế ở nông thôn bao gồm: sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; thương mại, dịch vụ, nhưng ở nông thôn sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế ở khu vực nông thôn. Vai trò của nông nghiệp, nông thôn trong việc phát triển kinh tế, xã hội Trong những thập niên 40 và 50 của thế kỷ XX, phần lớn các nhà kinh tế không đánh giá cao vai trò của NNNT trong việc tăng trưởng và phát triển kinh tế nên các chính sách phát triển kinh tế thời gian này ít quan tâm đến NNNT. Trong quá trình phát triển, một số nước chỉ chú trọng đến phát triển đô thị, khu công nghiệp hiện đại mà không chú ý đến phát triển NNNT điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của các quốc gia, tạo ra sự mất cân đối giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa sản xuất và tiêu dùng.
Nhận thấy được điều đó, các nhà kinh tế tập trung nghiên cứu về lĩnh vực NNNT và đưa ra đóng góp quan trọng của lĩnh vực nông nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế [3, tr. Đó là: - Nông nghiệp là ngành cung cấp lương thực và các nguyên liệu đầu vào cho các ngành khác của nền kinh tế. - Lĩnh vực nông nghiệp tạo ra nguồn thu ngoại tệ quan trọng ở các quốc gia có lợi thế so sánh sản xuất một số mặt hàng nông sản xuất khẩu. - Nông thôn là thị trường quan trọng cho các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế và là nguồn cung cấp lao động cho khu vực công nghiệp.
- Nông nghiệp tạo ra một lượng vốn thặng dư để đầu tư cho quá trình công nghiệp hóa. Từ đó, nông nghiệp mới được nhìn nhận đóng vai trò tích cực trong phát triển kinh tế và cần thiết phải đầu tư, một số nước dựa vào sự phát triển nông nghiệp để CNH đất nước. Việt Nam đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu, phát triển NNNT có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế đất nước [31, tr.10] bởi: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 - NNNT là nơi sản xuất lương thực, thực phẩm cho nhu cầu cơ bản của nhân dân, cung cấp nông sản, nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu. Trong nhiều năm, nông nghiệp đóng góp từ 17 – 18% thu nhập quốc dân và gần 35% giá trị xuất khẩu, góp phần tạo nguồn tích lũy cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
- NNNT là nơi cung cấp nguồn nhân lực dự trữ dồi dào cho công nghiệp, chiếm trên 70% lao động xã hội. Trong quá trình CNH - HĐH lao động nông nghiệp đang chuyển dần sang làm công nghiệp và dịch vụ. Vì vậy, phát triển NNNT sẽ góp phần giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn. - Khu vực NNNT là nguồn cung cấp vốn lớn cho sự phát triển kinh tế nhất là giai đoạn CNH.
Nguồn vốn nông nghiệp được tạo ra từ tiết kiệm của nông dân hay ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản được đầu tư vào hoạt động phi nông nghiệp. - Với hơn 70% dân số cả nước, nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ rộng lớn của công nghiệp. Phát triển NNNT tạo điều kiện nâng cao thu nhập cho cư dân sống ở nông thôn, từ đó làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn và làm cho công nghiệp phát triển. Nhận thức được vị trí, vai trò của NNNT nước ta trong quá trình phát triển kinh tế đất nước Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương đổi mới, phát triển NNNT.
Quá trình đổi mới bắt đầu vào năm 1981, sau chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về khoán cây lúa đến nhóm người lao động, nhất là sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa VI (4/1988) về đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp, thực hiện khoán ruộng đất đến hộ nông dân [4, tr.9]…Với nhiều chủ trương, chính sách của Nhà nước nhằm khuyến khích các tổ chức tín dụng cho vay, đầu tư vào lĩnh vực NNNT nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong NNNT, xây dựng cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo và từng bước nâng cao đời sống của nhân dân như Quyết định 67/1999/QĐ-TTg ngày 30/03/1999 và mới đây là Nghị định 41/2010/NĐ-TTg ngày 12/04/2010 của Thủ tướng Chính phủ về “Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn”, NNNT Việt Nam có những bước phát triển đột biến, tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp bình quân qua các năm tăng cao. Riêng giai đoạn 2006-2010 tăng trưởng trong nông nghiệp bình quân 3,36% năm. Đặc điểm kinh tế xã hội nông nghiệp, nông thôn ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng ngân hàng Kinh tế khu vực NNNT chủ yếu dựa vào SXNN và một số bộ phận phi nông nghiệp. Bộ phận nông dân sản xuất nhỏ chiếm đa số trong cư dân ở nông thôn nhưng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 sản lượng lại chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm của khu vực nông nghiệp.
Một phần sản lượng này phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của gia đình, phần lớn được mang ra trao đổi trên thị trường. Một số bộ phận khác trong kinh tế nông thôn sản xuất có tính hàng hóa, sản phẩm làm ra chủ yếu phục vụ cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Những đặc điểm kinh tế, xã hội NNNT có ảnh hưởng trực tiếp đến HĐTD thể hiện như sau:[4, tr.5] - Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào chu kỳ sinh học và điều kiện tự nhiên. SXNN là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng và cơ bản của nền kinh tế quốc dân.
Khác với các ngành sản xuất khác, nông nghiệp là ngành sản xuất sinh học, phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên, Tuy nhiên, do trình độ dân trí còn thấp, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật còn hạn chế nên kết quả của SXNN chưa cao và không chắc chắn như công nghiệp và dịch vụ do vậy HĐTD đối với lĩnh vực NNNT cần có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước. - Đầu ra của sản phẩm nông nghiệp khá khó khăn. Việc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp thường khó khăn, giá cả lại thiếu ổn định. Điều này gây khó khăn cho người sản xuất.
Để phát triển kinh tế NNNT, cần có nhiều hình thức tín dụng giúp đỡ nông dân nâng cao năng suất, hạn chế rủi ro. Vì vậy bên cạnh tín dụng ngân hàng, cần có tín dụng ưu đãi của Nhà nước. - Nguy cơ rủi ro trong SXNN khá cao nhưng tỷ suất sinh lợi lại khá thấp. Do đối tượng của SXNN là cây trồng, vật nuôi, là cơ thể sống, hoạt động SXNN chịu sự chi phối rất lớn của các qui luật sinh học và qui luật tự nhiên nên rủi ro trong hoạt động SXNN là rất lớn.
Hơn nữa, năng suất lao động trong nông nghiệp ở nước ta còn thấp, lợi nhuận trong ngành nông nghiệp chưa cao. Do vậy, lãi suất cho vay ở khu vực NNNT cao sẽ dẫn đến người sản xuất không dám vay, còn nếu lãi suất thấp, ngân hàng sẽ gặp khó khăn. Vì vậy lãi suất cho vay đối với lĩnh vực NNNT cần phải xác định linh hoạt và hợp lý trong từng thời kỳ nhất định. - Sản xuất nông nghiệp tính đa dạng, phân tán và nhỏ lẻ.
Địa bàn SXNN rộng, phân tán, sản phẩm đa dạng, tính chuyên môn hóa thấp và diễn ra theo hình thức xen canh, mùa vụ, dễ gặp nhiều tình huống bất ngờ xảy ra. Hơn nữa, phần lớn món vay nhỏ, số lượng khách hàng đi vay nhiều.