Chương 1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐÔI VỚI TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRONG NEN k i n h t ê t h ị t r ư ờ n g 1. Quá trình phát triển lý luận về TDNH đã tồn tại nhiều quan điểm nghiên cứu khác nhau, với những khác biệt ở nhiều mức độ khác nhau, những khác biệt đó trước hết thể hiện qua các quan niệm khác nhau về tín dụng. Cũng có quan điểm cho rằng TDNH có nguồn gốc từ tín dụng cho vay nặng lãi. Tuy nhiên, quan điểm đó không phù hợp với các quan điểm của nhiều nhà kinh tê học nổi tiếng khác.
Theo đó, tín dụng ra đời và tồn tại trong những điều kiện kinh tê xã hội nhất định, ở đây ta chỉ xem xét tín dụng thương mại và TDNH, là những phương thức tín dụng gắn liền với sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường, cho vay nặng lãi không phải là một phương thức tín dụng. Bản chất của cho vay nặng lãi chỉ là sự bóc lột, không mang những đặc trưng của tín dụng, không có sự gắn bó hữu cơ giữa sự vận động của hàng hoá, dịch vụ với tiền vốn. Lịch sử xã hội loài người đã cho thấy, khi phân công lao động xã hội đã xuất hiện như một đòi hỏi khách quan của sự phát triển xã hội, trong đó, sản xuất ra hàng hoá là để trao đổi chứ không phải chỉ để tự tiêu dùng. Sự phát triển của sản xuất xã hội đi từ đơn giản đến đa dạng, trước hết, việc trao đổi hàng hoá được thực hiện trực tiếp (hàng đổi hàng).
Ở giai đoạn phát triển cao hơn, trao đôi hàng hoá được thực hiện thông qua các hành vi mua bán với sự tham gia của tiền tệ với vai trò là phương tiện thanh toán. Quá trình hình thành và phát triển hoạt động tín dụng ngân hàng. Tín dụng thương mại gắn với việc thực hiện chức năng phương tiện 5 thanh toán của tiền tệ thông qua hành vi mua bán chịu hàng hoá giữa những người sản xuất kinh doanh.Mác: “T ín d ụ n g thư ơ ng m ạ i là ch o va y b ằ n g h à n g hoá, tứ c là th ự c h iệ n b á n h à n g trư ớc, trả tiền sa u ”, vì vậy “trong số tiền phải hoàn trả lại bao gồm cả khoản thù lao về việc sử dụng tư bản và sự rủi ro có thể xảy ra trước khi đến kỳ hạn trả”. Sự ra đời và phát triển đến mức phổ biến của hành vi mua bán chịu chính là sự ra đời và phát triển của tín dụng thương mại.
Tuy nhiên, chỉ đến thời kỳ kinh tế thị trường chuyển qua giai đoạn tự do cạnh tranh thì "các cơ sở tự nhiên đó mới được mở rộng ra và trở thành phổ biến”. Công cụ để thực hiện quan hệ tín dụng thương mại là các kỳ phiếu thương mại (thương phiếu). Thương phiếu là một loại giấy tờ nhận nợ, trong đó ghi rõ số tiền mua chịu, thời hạn hoàn trả và các cam kết của người mua đối với người bán. Trong việc mua - bán chịu này, người bán được hưởng một khoản lợi tức, đó là lợi tức trong tín dụng thương mại.
Số lợi tức này chính là số chênh lệch (lớn hơn) giữa giá hàng hoá mua chịu với giá mua hàng hoá phải trả tiền ngay. Tuy vậy, nội dung kinh tế cơ bản của thương phiếu không chỉ là số lợi tức đó, mà thuộc mối quan hệ khác, đó là quan hệ giữa chủ kỳ phiếu có nhu cầu thu tiền về trước kỳ hạn, trong khi người phát hành chưa thể đáp ứng mà phải thông qua một người khác có khả năng đáp ứng nhu cầu này, vì họ luôn có tiền. Đó chính là các chủ ngân hàng. Việc ngân hàng đáp ứng yêu cầu thanh toán thương phiếu trước hạn cho người thụ hưởng đã đánh dấu sự ra đời của tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng ra đời trên cơ sở các nghiệp vụ chiết khấu kỳ phiếu, thương phiếu của các ngân hàng. Theo đó, ngân hàng và chủ kỳ phiếu thoả thuận chuyển những giấy tờ có giá đó thành tiền trước kỳ hạn thanh toán, ngân hàng ứng số tiền này cho chủ kỳ phiếu sử dụng và ngân hàng nắm quyền đòi nợ đối với người phát hành. Thông qua nghiệp vụ này, ngân hàng 6 cũng thực hiện lợi ích của mình bằng việc khấu đi một phần trong tổng số tiền ghi trên kỳ phiếu (gọi là suất chiết khấu hoặc lãi suất chiết khấu) trước khi trả số tiền còn lại cho chủ kỳ phiếu. Chủ kỳ phiếu chịu trách nhiệm cùng ngân hàng về số tiền được chiết khấu cho đến khi ngân hàng nhận được số tiền từ người phát hành kỳ phiếu theo thời hạn đã cam kết.
Ngoài việc chiết khấu, thương phiếu còn có thể được sử dụng để cầm cố tại ngân hàng. Hơn nữa, các thương phiếu chưa đến hạn thanh toán cũng có thể được dùng làm phương tiện thanh toán như mua hàng hay trả nợ. Đó là lúc thương phiếu có chức năng, vai trò như tiền và trở thành tiền thương mại, tiền tín dụng trong hoạt động thương mại. Phân tích vai trò của kỳ phiếu như trên cho thấy mối quan hệ giữa giấy bạc ngân hàng với TDNH, vì vậy, C.Mác đã khẳng định: "Giấy b ạ c ngân hàn g ch ẳn g q u a c h ỉ là m ộ t d ấ u hiệu của tín dụng đan g lưu hành".
Thương phiếu do các nhà sản xuất kinh doanh phát hành và được bảo đảm bằng hàng hoá, giấy bạc ngân hàng do các ngân hàng phát hành và được bảo đảm bằng vàng. Sau này, vai trò phát hành giấy bạc được giao cho một ngân hàng lớn và cuối cùng, mỗi quốc gia vai trò này được tập trung vào Ngân hàng Trung ương cùng với các chức năng quan trọng khác. Khi đã có giấy bạc ngân hàng thì việc chiết khấu thương phiếu được thực hiện bằng giấy bạc, tức là ngân hàng dùng kỳ phiếu để thay thế thương phiếu của các nhà kinh doanh. Việc thay thế này, về nguyên tắc là không làm tăng quy mô tiền tệ, mà chỉ thay thế một công cụ lưu thông vận động chậm, có thời hạn bằng một loại công cụ lưu thông vận động nhanh hơn, phổ biến, có bảo đảm và được sử dụng lâu dài hơn.
Lúc này, các ngân hàng không còn cho vay bằng tiền thật mà cho vay bằng giấy bạc ngân hàng và các công cụ lưu thông tín dụng. Như vậy, ngân hàng đã biến giấy bạc, ngân phiếu, thương phiếu đang nắm giữ thành một thứ tiền tín dụng, một thứ tài sản có khả năng sinh lời. Khái niệm, đặc trưng cơ bản của tín dụng ngân hàng. B ả n c h ấ t và đ ặ c trư n g c ủ a tín d ụ n g n g â n h àn g.
Có thể nói: Tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là một sản phẩm của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, nhưng chính nó lại là động lực thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên trình độ cao hơn. Qua nhiều giai đoạn tồn tại, phát triển, ngày càng đa dạng và hoàn thiện nay tín dụng được hiểu theo định nghĩa cơ bản sau: Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế trong đó cá nhân (hay tổ chức) nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện vật cho cá nhân (hay tổ chức) khác với những ràng buộc nhất định như: thời hạn hoàn trả (cả gốc lẫn lãi) lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi. TDNH tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế-xã hội và đã có nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng được đưa ra. Song khái quát lại bản chất của hoạt động TDNH là: Tín dụng ngân hàng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên là ngân hàng thương mại chuyển giao một lượng giá trị sang cho khách hàng sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời khách hàng cam kết hoàn trả cả vốn gốc lẫn lợi tức theo thời hạn đã thoả thuận.
C á c y ế u t ố cấ u th à n h h o ạ t đ ộ n g tín dụng. Hoạt động tín dụng được cấu thành bởi các nội dung chủ yếu thể hiện qua khái niệm trên đây, bao gồm: - Ngân hàng cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng vốn nhất định. Lượng vốn này có thể là tiền tệ hoặc có thể là hiện vật như: hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản. - Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho ngân hàng.
- Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay ban đầu hay 8 nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lãi vay cho ngân hàng. Đ ặ c trư n g c ơ b ẩ n củ a h o ạ t đ ộ n g tín d ụ n g ngân hàng. Có thể nói trong hoạt động kinh doanh tín dụng nói chung và TDNH nói riêng, đặc trưng của tín dụng đều dựa trên 3 đặc trưng chủ yếu là: Lòng tin, Tính thời hạn và Tính hoàn trả. - Y ếu t ố lò n g tin Bản thân từ tín dụng xuất phát từ tiếng la-tinh “credittum” có nghĩa là “sự giao phó” hay “sự tín nhiệm”.
Nghiên cứu khái niệm tín dụng cũng cho ta thấy tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn thời gian hoàn trả. Sự hứadiẹn biểu hiện “mức tín nhiệm” hay “lòng tin” của người cho vay vào người đi vay. Yếu tố lòng tin tuy vô hình nhưng không thể thiếu trong quan hệ tín dụng, đây là yếu tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là điều kiện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh. Lòng tin trong quan hệ tín dụng được biểu hiện từ nhiều phía, không chỉ có lòng tin từ một phía của người cho vay đối với người đi vay.
Nếu người cho vay không tin tưởng vào khả năng hoàn trả của người đi vay thì quan hệ tín dụng có thể không phát sinh và ngược lại, nếu người đi vay cảm nhận thấy người cho vay không thể đáp ứng được yêu cầu về khối lượng tín dụng, về thời hạn vay, thì quan hệ tín dụng cũng có thể không phát sinh. Tuy nhiên, trong quan hệ tín dụng lòng tin của người cho vay đối với người đi vay quan trọng hơn nhiều bởi lẽ người cho vay là người giao phó tiền bạc hoặc tài sản của họ cho người khác sử dụng.