Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả huy động vốn của NHPT. Chương 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn của NHPT Việt Nam. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn của NHPT Việt Nam. 4 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 1.
Giới thiệu về hoạt động chủ yếu tại Ngân hàng Phát triển 1. Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng Phát triển Mặc dù NHPT mới chỉ đƣợc biết đến sau chiến tranh thế giới thứ II nhƣng những tổ chức thực hiện chức năng tƣơng tự đã xuất hiện từ rất lâu. NHPT đầu tiên đƣợc thành lập tại Bỉ vào năm 1822 với mục đích tài trợ để thúc đẩy ngành công nghiệp. Đó là một ngân hàng cổ phần huy động vốn thông qua việc bán cổ phần và phát hành trái phiếu để tài trợ cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Vào năm 1852, Quỹ tín dụng huy động của Pháp đƣợc thành lập, huy động các nguồn lực thông qua việc bán trái phiếu và kỳ phiếu, đặc biệt là thực hiện đầu tƣ dài hạn vào tiện ích công cộng, đƣờng sắt, các công ty bảo hiểm và ngân hàng. Các mô hình ngân hàng đầu tƣ tƣơng tự tiếp đến đƣợc thành lập ở Đức, áo, Bỉ, Hà Lan, ý, Tây Ban Nha và Thụy Sĩ. Trong suốt thế kỷ 19, tín dụng huy động có một sức hấp dẫn lớn với tất cả các nƣớc muốn phát triển nhanh các ngành công nghiệp. Năm 1902, Ngân hàng công nghiệp Nhật Bản đƣợc thành lập với mục đích tài trợ phát triển ngành công nghiệp Nhật Bản.
Mặc dù các ngân hàng này cũng giúp ích trong quá trình công nghiệp hóa nhƣng chúng không đƣợc gọi với tên chính xác là NHPT. Sau chiến tranh thế giới thứ I, các quốc gia ở châu Âu đã phát triển các tổ chức chuyên cung cấp nguồn lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng lại và phát triển các ngành công nghiệp sau chiến tranh. Những ngân hàng này chủ yếu là các ngân hàng cho vay thế chấp, mở rộng các khoản tài trợ dài hạn cho công nghiệp dựa trên tài sản thế chấp đầu tiên là sở hữu công nghiệp. Trong số đó phải kể đến một số ngân hàng quan trọng nhƣ Ngân hàng TNHH Phần Lan, Viện công nghiệp quốc gia Hungary và Ngân hàng kinh tế quốc gia Ba Lan.
Những ngân hàng này có vai trò rất lớn trong việc phục hồi nền kinh tế của các quốc gia sau chiến tranh. 5 Giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ II, mỗi quốc gia cảm thấy cần thiết phải đẩy nhanh tốc độ phát triển sau thời kỳ chiến tranh thế giới. Một số nƣớc đã trực tiếp tham gia vào cuộc chiến tranh trong khi những nƣớc khác thì nhiều nƣớc đã gián tiếp chịu hậu quả của chiến tranh. Có một nhu cầu xây dựng lại kinh tế với tốc độ phát triển nhanh hơn.
Máy móc thiết bị hiện có không đáp ứng đầy đủ yêu cầu của ngành công nghiệp. Trong bối cảnh này, NHPT ra đời là cần thiết vì những lý do sau đây: Thứ nhất, đặt nền tảng cho công nghiệp hoá: Một số quốc gia độc lập thoát khỏi ách thống trị của thực dân. Nền kinh tế của họ cần đƣợc phục hồi. Các nƣớc kém phát triển và đang phát triển khác cũng cần đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa.
Sự ra đời của NHPT là cần thiết để đặt một nền tảng vững chắc cho sự ra đời và phát triển của các ngành công nghiệp chủ chốt nhƣ xi măng, kỹ thuật, chế tạo máy, hóa chất, vv. Các doanh nghiệp tƣ nhân không đầu tƣ vào các lĩnh vực quan trọng này do những rủi ro có thể gặp phải, hơn nữa thời gian đầu tƣ là tƣơng đối dài. Chính phủ các nƣớc đang phát triển thành lập NHPT để điền vào những khoảng trống này. Thứ hai, đáp ứng nhu cầu vốn: Có một sự thiếu hụt vốn cần thiết để thúc đẩy tăng trƣởng công nghiệp ở các nƣớc kém phát triển trong khi mức thu nhập của ngƣời dân thấp, không có thặng dƣ vốn.
NHPT có thể bù đắp sự thiếu hụt này. Thứ ba, cần cho các hoạt động phát triển: Bên cạnh nhu cầu vốn, các nƣớc kém phát triển bị thiếu về trình độ chuyên môn, quản lý và kỹ thuật. NHPT có thể đảm nhận vai trò cũng nhƣ hợp tác với các thành phần kinh tế nhằm nâng cao kỹ năng quản lý và phát triển nguồn lực đồng thời dẫn dắt các thành phần kinh tế tƣ nhân đầu tƣ vào những ngành, lĩnh vực cần thiết theo định hƣớng phát triển của nền kinh tế quốc gia. Thứ tƣ, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ: Xét về phƣơng diện vĩ mô, nhu cầu của doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ có thể đƣợc đáp ứng ở một mức độ nào đó.
Những doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ tạo thành một khu vực khá lớn của nền kinh tế công nghiệp do đó việc hỗ trợ nhằm giảm bớt khó khăn cho các doanh nghiệp này là hết sức cần thiết. Mặc dù những doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng trong 6 nền kinh tế nhƣng họ lại thiếu kinh nghiệm do đó không thu hút đƣợc vốn của các nhà đầu tƣ. Cần có một định chế đặc biệt để giúp đỡ các TPKT quan trọng trong sự nghiệp CNH các nƣớc đang và kém phát triển. Một số NHPT trong thời kỳ này là NHPT công nghiệp của Canada (1944), Tổng công ty TNHH Công nghiệp của Pháp và Tổng công ty TNHH tài chính thƣơng mại của Anh (1945), Cục Tài chính công nghiệp chung cho các Ngân hàng của úc (1945).
Các tổ chức này không chỉ cung cấp các khoản vay có kỳ hạn trong ngành công nghiệp mà còn tham gia góp vốn cổ phần vào các công ty. Các tổ chức ở Anh thậm chí còn có quyền chọn để chuyển đổi các khoản vay của họ thành cổ phiếu ƣu đãi và vốn chủ sở hữu. Các tập đoàn tài chính của úc có thể đƣợc gọi là NHPT bởi vì có thể hỗ trợ trong việc thành lập và phát triển các ngành công nghiệp. Mặc dù có sự khác biệt về tổ chức, phạm vi và phƣơng pháp nhƣng các tổ chức này đều có chung mục tiêu là giúp các doanh nghiệp có nguồn lực tài chính khi không tiếp cận đƣợc các nguồn truyền thống.
NHPT rất cần thiết để hỗ trợ cho những trƣờng hợp chiến tranh đói kém. Trong 50 năm qua, các nƣớc đang phát triển đã nhờ đó mà phát triển rất nhiều. Với sự khuyến khích của Ngân hàng Tái Thiết và Phát Triển Quốc Tế (International Bank for Reconstruction and Development), số lƣợng NHPT trên thế giới tăng lên đáng kể từ những năm 1950. Những NHPT đƣợc biết đến nhiều trên thế giới nhƣ NHPT Liên Bang Mỹ (Inter-American Development Bank) thành lập năm 1959, NHPT Châu á (Asian Development Bank) thành lập từ năm 1966 và NHPT Châu Phi (African Development Bank) thành lập từ năm 1964.
Các ngân hàng này cung cấp các khoản vay cho các dự án công cũng nhƣ của tƣ nhân ở các quốc gia, khu vực hoặc có thể hoạt động kết hợp với các tổ chức tài chính khác. Một trong những hoạt động chính của NHPT là tiếp cận và xúc tiến các dự án đầu tƣ tƣ nhân. Mặc dù mục tiêu chính của NHPT là hƣớng đến các dự án đầu tƣ trong lĩnh vực công nghiệp, tuy nhiên, những dự án trong lĩnh vực nông nghiệp cũng có thể đƣợc hỗ trợ vốn từ ngân hàng. 7 Các NHPT khác nhau về quyền sở hữu, tổ chức, phạm vi, một số thuộc sở hữu độc quyền của chính phủ (NHPT công nghiệp của Nepal - năm 1959, NHPT quốc gia của Brazil - năm 1965), một số khác thuộc sở hữu tƣ nhân (Tổng công ty tín dụng và đầu tƣ công nghiệp của ấn Độ, Công ty Tài chính công nghiệp Thái Lan, vv), một số ngân hàng khác (Ngân hàng của Thổ Nhĩ Kỳ) chỉ tài trợ duy nhất cho các chƣơng trình mục tiêu của chính phủ, một số chỉ dành riêng cho các DNTN trong khi một số thì tài trợ cho cả hai.
Một số ngân hàng chỉ thực hiện cho vay trong khi một số vừa có thể cho vay vừa có cổ phần, ngoài ra còn có thể bảo lãnh phát hành. Một số có liên quan với toàn nền kinh tế trong khi một số cho các lĩnh vực cụ thể. Một số ngân hàng khu vực, một số quốc gia trong khi một vài liên vùng (NHPT Châu á) hoặc quốc tế nhƣ Ngân hàng Thế giới, Tổng công ty Tài chính Quốc tế, Hiệp hội Phát triển Quốc tế. Một số ngân hàng chỉ cung cấp tiền tệ địa phƣơng trong khi một số thỏa thuận trong cả hai loại tiền tệ trong và ngoài nƣớc, vv Từ lịch sử ra đời và phát triển của NHPT, có nhiều khái niệm về NHPT đƣợc đƣa ra: Theo World Bank (1957), NHPT của khu vực hay quốc gia là những tổ chức tài chính đƣợc thành lập với tiêu chí hỗ trợ các khoản vốn vay trung hạn hay dài hạn cũng nhƣ hỗ trợ kỹ thuật cho các dự án đầu tƣ sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và các lĩnh vực quan trọng khác ở các nƣớc đang phát triển.
Theo quan điểm của A. Kheradjou "NHPT được ví như một thực thể sống có tương quan với môi trường xã hội-kinh tế và thành công của nó phụ thuộc vào khả năng ứng biến tài tình của nó đối với môi trường đó". Kheradjou đã thấy đƣợc tầm quan trọng của các NHPT. Ông nhận định rằng các ngân hàng này nên gắn liền với các nhu cầu kinh tế - xã hội.
Chúng phải đáp ứng đƣợc các nhu cầu phát triển của nền kinh tế và sự thành công của các ngân hàng có liên quan mật thiết đến sự tăng trƣởng của nền kinh tế. Theo quan điểm của William Diamond “NHPT có tiềm năng hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp (ví dụ nhận ra đƣợc các ý định đầu tƣ và khuyến kích những ngƣời khác theo đuổi nhằm đƣa dự án từ “thai nghén” thành “hiện thực”)”. Về 8 nguyên tắc, NHPT rất phù hợp với vai trò này, tuy nhiên, NHPT nên thận trọng và chỉ thực hiện hỗ trợ khi doanh nghiệp đủ mạnh về tài chính, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng quản lý. Theo quan điểm của ông, NHPT là một tổ chức thực hiện việc phát triển các doanh nghiệp công nghiệp từ giai đoạn khởi đầu cho đến lúc hoàn thành, quá trình này kéo theo nhiều rủi ro cũng nhƣ chi phí cao.
Ngân hàng phải có đủ nguồn tài chính và chuyên môn để phát triển một dự án mới.