CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐÈ c o BẢN VÈ HIỆU QUẢ DỊCH v ụ THANH TOÁN THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VÈ THẺ THANH TOÁN VÀ DỊCH v ụ THANH TOÁN THẺ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. T h ẻ th a n h toán củ a ngân h à n g th ư o n g m ại 1. L ịc h s ử h ìn h th à n h v à p h á t tr iể n c ủ a t h ẻ th a n h to á n Mỗi giai đoạn lịch sử kinh tế khác nhau có những hình thái tiền tệ khác nhau.
Trước đây, người ta dùng vỏ sò, vỏ hển, những vật không có giá trị để trao đổi, tiếp đến là những thứ có giá trị cao như vàng, bạc, châu báu làm phương tiện lưu thông và tích trữ. Thê rồi, theo quy luật phủ định của phủ định, con người lại sử dụng những thứ không có giá trị như giấy để làm tiền rồi đến các hình thái bút tệ khác (séc, hối phiếu, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, lệnh chuyển tiền) vốn đã được sử dụng rất phổ biến cho đến nay. Cùng với các hình thái trên, người ta lại đưa ra một hình thái thanh toán rất mới đó là tiền điện tử (hay còn gọi là tiền thông minh). Thực chất, tiền điện tử không phải là một hệ thống tiền tệ mới mà là một hình thức hiện đại hơn của đồng tiền ghi sổ được hỗ trợ bởi các kỹ thuật về vi tính, từ tính, điện tử.
cho phép thực hiện giao dịch, trao đổi. Bên cạnh đó, khoa học kỹ thuật trên thể giới đã có những bước tiến đáng kể trong lĩnh vực thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng, cậc tổ chức tín dụng phát triển và hoàn thiện phương thức thanh toán của mình. Trong đó phải kể đến sự ra đời và phát triển của hình thức thanh toán bằng thẻ. v ề mặt lịch sử, thẻ ngân hàng đầu tiên được hình thành tại Mỹ từ thói quen cho khách hàng mua chịu của các chụ tiệm bán lẻ trên cơ sở uy tín của khách đối với cửa hàng.
Thông thường các chủ tiệm theo dõi khách hàng một cách riêng rẽ, ghi chi tiết các khoản mà mỗi khách hàng sẽ phải thanh toán và chấp nhận cho khách hàng trả tiền sau vì họ tin vào khả năng thanh toán của người mua. Tuy nhiên vốn của các cửa hàng thường hạn chế, dần dần các chủ tiệm nhận thấy mình không 5 có đủ khả năng tài chính cho khách hàng nợ và trả tiền sau liên tục như vậy. Chính thực trạng này đã góp phần giúp các tổ chức tài chính hình thành ý tưởng về sản phẩm thẻ. Với năng lực về tài chính, khả năng quản lý và kinh nghiệm kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, các tổ chức ngân hàng tài chính có đủ tiềm lực cung cấp cho khách hàng những khoản vay miễn lãi trong một thời gian nhất định.
Năm 1914, Công ty điện báo hàng đầu của Mỹ là Western Union đã phát hành tấm thẻ bán cho khách hàng của mình để thực hiện những giao dịch trên thị trường mà người ta tin rằng đó là thẻ thanh toán đầu tiên. Công ty này phát hành những tấm kim loại có chứa các thông tin in nổi thực hiện hai chức năng: Thứ nhất là phân biệt và nhận diện khách hàng và thứ hai là cập nhật và cung cấp dữ liệu về khách hàng, bao gồm các thông tin về tài khoản và các giao dịch thực hiện. Các tổ chức khác cũng nhận ra lợi ích của loại hình dịch vụ nói trên và chỉ trong một thời gian ngắn sau đó rất nhiều đon vị như trạm xăng, khách sạn, nhà ga cũng như các cửa hàng trên khắp nước Mỹ đã lựa chọn cung cấp dịch vụ trả chậm cho khách hàng của mình. Trong số đó, năm 1924, Tổng công ty xăng dầu Califonia cấp thẻ cho nhân viên và một số khách hàng của mình với mục đích chủ yếu là khuyến khích bán sản phẩm của công ty.
Tấm thẻ nhựa đầu tiên được phát hành vào năm 1950 bởi công ty Dinners Club. Đen năm 1958, công ty American Express bắt đầu tham gia vào thị trường thẻ ngân hàng và đã thiết lập thành công tên tuổi của mình trong lĩnh vực mới mẻ này. Cũng giống như các đối thủ cạnh tranh khác, American Express chú trọng phát triển thẻ trong lĩnh vực du lịch và giải trí, hai lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh tại Mỹ và châu Âu trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới. Hình thức sơ khai của thẻ là Charg-it, một hệ thống mua bán chịu do John Biggins sáng lập ra năm 1946.
Hệ thọng này cho phép khách hàng thanh toán cho các giao dịch mua bán lẻ tại địa phương bằng các “phiếu” có giá trị được ngân hàng phát hành. Các cơ sở chấp nhận thẻ nộp “phiếu” giao dịch, biên lai bán hàng vào ngân hàng của Biggins, ngân hàng sẽ trả tiền cơ sở và thu lại từ khách hàng đã sử dụng Charg-it.Hệ thống mua bán chịu này là tiền đề cho việc hình thành thẻ tín 6 dụng ngân hàng đầu tiên của Ngân hàng Franklin National ở Long Island, NewYork vào năm 1951. Tại đây, khách hàng nộp đơn xin cấp hạn mức tín dụng và được xét duyệt thông qua hoạt động giao dịch và tín dụng trước đó của họ với ngân hàng để kiểm tra khả năng thanh toán. Ngân hàng sẽ phát hành thẻ cho những khách hàng có đủ tiêu chuẩn và họ có thể dùng các thẻ này để thực hiện giao dịch tại các đại lý chấp nhận thẻ.
Khi thanh toán, cơ sở cung ứng hàng hóa, dịch vụ sẽ lưu lại các thông tin về khách hàng trên thẻ vào hóa đơn và nộp lại cho ngân hàng. Sau đó ngân hàng ghi có vào tài khoản của cơ sở cung ứng sau khi đã chiết khấu một tỷ lệ nhất định để bù đắp những chi phí của khoản vay. Khách hàng sử dụng thẻ phải trả toàn bộ dư nợ vào cuối tháng. Tiếp theo các tổ chức cung cấp hàng hóa dịch vụ, các ngân hàng nhanh chóng gia nhập vào thị trường thẻ với mục tiêu nhanh chóng phát triển hình thức thanh toán này trên cơ sở mối quan hệ sẵn có giữa các đơn vị cung cấp hàng hóa dịch vụ trên cả nước với hệ thống đại lý rộng khắp của ngân hàng.
Với tốc độ phát triển nhanh chóng chỉ vài năm sau đó hơn 100 ngân hàng trên toàn nước Mỹ cùng thực hiện cung cấp dịch vụ thanh toán trả chậm, tiền thân của thẻ tín dụng sau này. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển sản phẩm quá nóng, các ngân hàng cũng như các tô chức tài chính đã gặp những bài học xương máu và buộc phải xem lại chiên lược kinh doanh của đơn vị mình. Đen trước năm 1970, khái niệm thẻ tín dụng đã được mọi người biết đến và nhanh chóng được đón nhận. Năm 1960, ngân hàng lớn của Mỹ là Bank of America đã phát hành thẻ Bank Americard.
Sau đó ngân hàng này đã bắt đầu cấp giấy phép cho các định chế tài chính trong khu vực để phát hành thẻ mang thương hiệu Bank Americard và xây dựng một số quy định và tiêu chuẩn riêng đối với các định chế tài chính khi phát hành thẻ. Người dân dị du lịch nhiều hơn trên nước Mỹ và cả nước ngoài mà không còn lo lắng tới việc phải có sẵn tiền mặt để thanh toán. Thẻ tín dụng lúc này không chỉ mặc định dành cho giới nhà giàu và nổi tiếng mà trở thành một phương tiện thanh toán phổ biến. Thương hiệu BankAmerican với một loạt sản phẩm có ba màu xanh, trắng, vàng đặc trưng ngày càng trở nên quen thuộc với 7 người tiêu dùng.
Bằng việc ký họp đồng đại lý và cho các ngân hàng khác hưởng phí thanh toán chuyển đổi, Bank o f American đã nhanh chóng tăng được lượng thẻ phát hành cũng như ký kết họp đồng chấp nhận thẻ với các đơn vị chấp nhận thẻ trên khắp nước Mỹ và mở rộng ra thế giới. Năm 1977, Bank Americard đổi tên Visa USA và sau đó trở thành tổ chức thẻ quốc tế Visa. Ngày nay thẻ Visa đã trờ thành thẻ có quy mô lớn và được nhiều người sử dụng nhất trên thế giới. Năm 1966, để cạnh tranh với sự thành công của Bank of America, 14 ngân hàng lớn của Mỹ thành lập Hiệp hội thẻ liên ngân hàng quốc tế ( Interbank Card Association- ICA) và cho ra đời thẻ Master Charge.
Sau này ICA được đổi tên thành MasterCard vào năm 1979. ICA ban hành các quy định về cấp phép giao dịch, thanh toán bù trừ, các biện pháp Marketing, bảo mật và các vấn đề liên quan tới luật pháp nhằm vận hành công việc một cách có hiệu quả. Năm 1968, ICA bất đầu chiến lược mở rộng kinh doanh trên phạm vi toàn cầu thông qua việc họp tác với ngân hàng Banco National của Mexico. Sau đó ICA tiếp tục tìm kiếm các đổi tác tại thị trường châu Ẩu và cho ra đời thẻ Eurocard.
Cũng vào năm 1968, ICA liên kết với một số ngân hàng tại Nhật nhằm từng bước thâm nhập và nắm bắt thị trường Đông Á này. Như vậy, thẻ ngân hàng ra đời từ nhu cầu thanh toán nhanh chóng và thuận tiện cùng với sự hỗ trợ của tiến bộ khoa học kĩ thuật trên thế giới cũng như chiến lược thay thế tiền mặt trong lưu thông. Thực tế cho thấy, thẻ ngân hàng là sự phát triển tất yếu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, đồng thời đã và đang phản ánh sự phát triển của khoa học công nghệ và văn minh xã hội. Tiếp thu và ứng dụng những thành tựu của thế giới về khoa học kỹ thuật, nhất là về công nghệ thông tin, hệ thống thẻ ngày càng phát triển.
Cùng với mạng lưới thành viên và khách hàng phát triển hàng ngày, các tổ chức thẻ quốc tể đã xây dựng hệ thống xử lý giao dịch và trao đổi thông tin toàn cầu về phát hành, cấp phép, thanh toán, tra soát, khiếu kiện và quản lý rủi ro. Với giá trị giao dịch hàng trăm tỷ USD mỗi năm, thẻ ngân hàng đang cạnh ừanh quyết liệt cùng tiền mặt và séc trong hệ thống thanh toán toàn cầu. Đây là thành công đáng ghi nhận đối với một ngành kinh doanh mới chỉ có vài thập kỷ hình thành và phát triển. K h á i n iệ m v ề t h ẻ th a n h to á n Có rất nhiều khái niệm để diễn đạt thẻ thanh toán: - Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ mà không dùng tiền mặt hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hay các máy rút tiền tự động ATM (viết tắt từ Automatic Teller Machine).